NGUYỄN TRỌNG TẠO NGHĨ PHẬN VỀ THƠ

Nguyễn Trọng Tạo – Ảnh chụp năm 1982

NGUYỄN TRỌNG TẠO 
(Viết mấy lời khi tai biến qua)

Làm thơ nghĩ cũng nực cười, khi 14 tuổi, tôi chạm vào thơ đã nghĩ tới cái chêt:

“… Mai sau tôi chết trong thơ,
Hay là thơ chết bên bờ hồn tôi …”

Tới khi biết yêu đã nghĩ tới thất bại:

“điều Có thể đã hoá thành Không thể
biển bạc đầu nông nổi tuổi hai mươi…” 

Tới khi làm lính:

“Nói mất mát, hy sinh dẫu cạn lời – chưa đủ
Núi lặng thầm khóc bạn dưới sao khuya”

Thơ sao cứ buồn thế. 

Sau 1975 ngoài sự nôn nóng thay đổi về thi pháp, chính tôi là người muốn thay đổi ngay về tư tưởng trong thơ, tất nhiên không phải theo cách áp đặt, anh muốn tư tưởng là có tư tưởng. Từ cuối những năm 70, thơ tôi đã động chạm đến rất nhiều thứ. Khi chủ trương “thơ đời thường”, tôi đã có độ lùi để xem lại giá trị của cái tháp nước, nếu mở vòi nước ra mà có nước thì đấy mới là cái tháp nước, còn nếu anh mở vòi nước ra mà không có nước thì nó chẳng có ý nghĩa gì, nó không phải là cái tháp nước. “Mẹ tôi dòng dõi nhà quê” là dòng dõi của cội nguồn sang trọng. Cũng như cả một cơ chế bên trên, chỉ có ý nghĩa khi nó thiết thực với cuộc sống của cộng đồng mà nó đại diện. Tư tưởng này cũng là sự hợp lý, biện chứng thôi, nhưng từ lâu chúng ta đã quá quen một lối nhìn xuôi chiều, bây giờ nhìn ngược lại mới tạo ra được cách nghĩ mới, tư tưởng mới. Hay đến một bài khác: “Tản mạn thời tôi sống”, tôi đã đặt những vấn đề thời đại: “thời tôi sống có bao nhiêu câu hỏi, câu trả lời thật không dễ dàng chi”. Lúc ấy người ta cứ tưởng đã trả lời được hết thảy các câu hỏi của cuộc sống, nhưng câu thơ của tôi xuất hiện, đã lật lại vấn đề hoàn toàn khác. Và đến câu “như con chiên sùng đạo chợt bàng hoàng – nhận ra chúa chỉ ghép bằng đất đá”… thì tư tưởng cảnh báo thần tượng đã thức tỉnh sự u mê của mọi người: các thần tượng hãy coi chừng, thần tượng luôn thay đổi và hãy nhìn lại đời sống thật của mình, hãy biết khát khao đời sống lớn hơn. Đến bài “Nhịp điệu Tây Nguyên”, tôi lại kêu gọi sự phá vỡ khuôn khổ gò bó con người: “Ta thoát khỏi ta – như đứa trẻ thoát áo quần quá chật”… Đến tập “Sóng thuỷ tinh” và tập “Thư trên máy chữ…” là cả một sự trăn trở kinh hoàng để nêu ra tư tưởng phản kháng với loại nghệ thuật mơn trớn sự giả dối một cách mạnh mẽ: “rồi một ngày giả dối sẽ nổ tung – bởi những hạt-sự-thật… và khi ấy những câu hỏi bây giờ – được thay thế bằng những câu hỏi khác“. Đấy là thời thơ tôi không chỉ là cái nhà quê mà còn muốn đưa một đời sống hiện đại, một quan niệm hiện đại vào thơ, vì chúng ta đang sống ở thời hiện đại và thơ chỉ cần mang chất xa xăm của tâm linh nhà quê. Thời ấy làm như vậy cũng là một sự tìm tòi đầy can đảm. Bởi thơ không chỉ thay đổi hình thức cho hiện đại mà chính nội dung của nó cũng phải hiện đại, phải rất mới. Cho đến thời ở Huế, tự nhiên trong không gian khói sương của tâm thức Huế, thơ tôi có sự chuyển lớn, mờ nhoè đi rất nhiều, dù tư tưởng vẫn quyết liệt như trước, nhưng chạm tới bản chất hơn: “có câu trả lời biến thành câu hỏi“. Thơ giai đoạn này có vẻ “thiền” hơn, nó hướng tới những “trạng thái sống” huyền bí và xa xăm. Và tôi cũng bắt đầu quan tâm tới vấn đề tình dục là một vấn đề rất lớn và rất tế nhị của thơ. Tôi viết về vấn đề này thường kín đáo kiểu phương Đông như:  “anh nín thở đến tột cùng máu ứa – cột lửa phun nham thạch phì nhiêu – rồi chết lịm trong vỗ về mơn trớn – mười ngón dài thon của gió chiều”, chứ không viết rõ ràng như lớp trẻ sau này. Có thể nói thế này, nếu người ta nhìn Huế như một kinh thành ánh sáng, thì tôi nhìn nó trong sự bí ẩn của bóng tối. Tôi đứng về phía bóng tối, nên thơ tôi chứa đựng tinh thần phản kháng, đôi khi xa lạ với dòng thơ chung.

Khi nói đến sự nhoè mờ trong tâm linh phương Đông mà một số nhà thơ chúng ta đang hướng tới, tôi muốn lưu ý điều này: Có phương Đông cổ điển và có phương Đông hiện đại. Làm sao giữ được tâm linh phương Đông trong lối sống hiện đại là một điều không dễ. Làm thơ hiện đại mà vẫn phương Đông lại khó hơn nhiều.

Và khi đó, thơ tất đẩy tới “Đồng dao cho người lớn”, “Nương thân”, “Thế giới không còn trăng”, “Em đàn bà”, “Ký ức mắt đen” hay “Biến mặn”…

Trong đời thơ tôi thích nhất Hàn Mặc Tử, Êxênhin, và Lorca. Thơ họ rất trong, rất lạ, buồn muốt ruột, họ đều viết về trăng rất hay, và cả ba đều chết trẻ. Tôi phục thơ những ông W.Whitman, Voznexenxki, Nêruda… Thơ họ mạnh về tư tưởng. Nhưng tôi lại hay đọc cuốn Thơ Đường… Có thể thời đầu tôi ảnh hưởng Hàn Mặc Tử, sau thì thoát ngay bập vào “thơ chống Mỹ”, rồi thơ Tây, thơ Nga… Nhưng mấy năm sau đó không thích chịu ảnh hưởng ai, mà thấy đây đó có người ảnh hưởng mình. Tuy nhiên, thỉnh thoảng sự ám ảnh Hàn Mặc Tử lại trở về. Đó là sự linh thiêng thăm thẳm. Và từ cuối những năm 80 thế kỷ trước, tôi đã “chớp mắt” vào thơ:

Mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ
Mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió

Có thương có nhớ có khóc có cười
Có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi

Hà Nội, 6h30 11.3.2018

(Nguyễn Trọng Tạo – Ảnh chụp năm 1982).

 

 

 

Advertisements

About hoingovanchuong

Nhà văn
Bài này đã được đăng trong 01.Tin văn nghệ, 03.Chuyện làng văn, 04.Sự kiện và đối thoại, 05.Phê bình-lý luận. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s