KAREL CAPEK VÀ NHỮNG TRUYỆN NGẮN ĐẶC SẮC TRONG TẬP “HOA CÚC XANH”

Ú

hoacucxanh-biaPHẠM THÀNH HƯNG

Trong thế kỷ của công nghệ thông tin và điều khiển học hiện tại, mỗi ngày trên trái đất này có tới hàng trăm triệu người thuộc nhiều dân tộc khác nhau đang dùng từ ROBOT. Người ta dùng từ đó hằng ngày, với những hàm ý khác nhau, trong những văn cảnh khác nhau, nhưng hiếm mấy ai để ý tới nguồn gốc, quê hương, thời đại làm nảy sinh ra nó, đặc biệt là không quan tâm tới người sáng tạo ra nó. Người khai sinh ra “robot” không phải ai xa lạ mà chính là tác giả của cuốn sách này: Karel Čapek – nhà văn, nhà báo, nhà soạn kịch, nhiếp ảnh gia … cây đại thụ của nền văn hóa Tiệp Khắc thế kỷ XX.

Karel Čapek sinh năm 1890 tại Malé Svatonovice, một làng thuộc miền đông bắc Czech, trong gia đình có cha là bác sỹ, mẹ là nhà sưu tầm văn học dân gian. Ngay từ thời niên thiếu ông đã bí mật tổ chức các hoạt động chống nhà nước quân chủ thống trị Áo – Hung, hướng tới lý tưởng tự cường dân tộc. Ông có nhiều năm du học ở Paris và Berlin. Năm 1915, ông tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Charles Praha với bằng Doctor Triết học. Vì bệnh tật, ông không phải đăng lính. Sau khi ra trường, đi làm gia sư, năm 1917, ông đã trở thành ông thầy nổi danh trong lâu đài của gia đình quý tộc Prokop Lazanski. Nhưng cũng ngay trong năm ấy ông rời lâu đài, chính thức bước vào sáng tác và hoạt động báo chí. Ông là biên tập viên và cùng anh trai mình – nhà văn Jozef Čapek (1887-1945) là những cây bút chủ công của các tờ Národní List (1917-1921), Nebojsa (1918-1920), Lidové noviny (1921). Từ năm 1921 đến 1923, nhà văn trở thành tác giả kịch bản, kiêm đạo diễn của nhà hát Vinohradské divadlo. Từ năm 1925-1933 là Chủ tịch Hội Văn bút của Tiệp Khắc. Ông trở thành người đồng chí hướng và bạn tâm giao với T. Masarych – vị tổng thống đầu tiên của Cộng hòa Tiệp Khắc. Có nhiều năm, các bài viết của ông trên báo mang sức nặng uy quyền của người phát ngôn chính thống từ Dinh Tổng thống. Hiệp ước Munich (1938, xác lập chế độ bảo hộ của phát xít Đức cho các vùng đất Czech đối với ông là một quả bom đánh vỡ tan tành cái thế giới mà ông đang mong ước. Cuộc chiến tranh thế giới thứ hai lăm le bùng nổ cũng là lúc ông lâm bệnh trọng. Vì những thành tựu trong sáng tác nghệ thuật và hoạt động văn hóa, vì những nỗ lực níu kéo không thành khối đoàn kết hai dân tộc Czech và Slovakia, Karel Čapek trở thành biểu tượng văn hóa của Nền Cộng hòa Tiệp Khắc thứ nhất (1918 – 1938). Ông mất vì một cơn bệnh phổi, ngày 25 tháng 12 năm 1938, khi tổ chức gestapo Đức đã tập hợp đủ hồ sơ để ra lệnh bắt ông.

Dịch giả Phạm Công Tú (thứ 3 từ phải sang) trong lễ ra mắt sách “Hoa cúc xanh” tại Hà Nội, 21.12.2016

Čapek để lại một di sản văn học và báo chí và nhiếp ảnh đồ sộ. Sáng tác của ông nhanh chóng được Âu hóa, tới mức được để cử giải Nobel văn học tám lần liên tục (1932 – 1938). Nhà văn “cận Nobel” này được châu Âu biết tới có thể vì sự xuất hiện kịch RUR, với tập thể nhân vật robot trên sân khấu.

RUR là viết tắt của cụm từ Rossum’s Universal Robots (Những người làm khoán toàn tài của ngài Rossum). Chuyện là: ngài chủ xưởng Rossum sau nhiều năm nghiên cứu đã chế tạo được rất nhiều robot toàn năng. Đám robot – người máy này hoàn hảo cả về trí tuệ lẫn hình thức, tới mức hằng ngày tiếp xúc, không thể phân biệt được chúng với con người. Dần dần, robot đảm nhiệm gần hết mọi công việc, khiến cho con người mỗi ngày một trở nên lười nhác, tha hóa đi. Đến một ngày, robot vùng lên khởi nghĩa, giết người. Chúng giết gần hết, cho tới ông già Alquist thì dừng tay. Chúng muốn ông phải tìm ra bí mật của phát minh robot. Alquist cố gắng hết mình để tìm kiếm thông tin về cấu trúc cơ thể chúng, kể cả biện pháp gây mê. Như một sự tình cờ, trong số robot xe-ri cuối lại có chàng robot Primus và nàng Helena – những robot có một vài đặc tính của loài người. Ông già Alquist phát hiện ra là chúng biết yêu nhau. Trong ông hé sáng niềm hy vọng: một chủng loại robot mới sẽ ra đời và duy nhất chỉ tình yêu mới cứu được nhân loại… Tư tưởng nghệ thuật của vở RUR không xa lạ, mà ngược lại, hoàn toàn thống nhất với hệ thống quan niệm nghệ thuật và lý tưởng thẩm mỹ của nhà văn trong các truyện trinh thám – hình sự mà chúng ta đang có trong tay.

Túi truyện thứ nhất, thứ nhì (Povídky z jedné kapsy, Povídky z druhé kapsy) là tập truyện xuất bản năm 1929, sau khi vở kịch RUR ra mắt đã được 9 năm. Chín năm ấy, nhà văn đã nếm trải đủ những vui buồn, lo toan của người công dân Tiệp Khắc trong một chính thể cộng hòa và một quốc gia độc lập. Túi truyện là bộ sưu tập chân dung, tính cách con người mà nhà văn từng gặp gỡ và gần gũi trong nghề làm báo. Túi truyện… phản ánh khá sinh động đời sống xã hội bình dân Czech mấy thập niên đầu thế kỷ XX. Được xếp vào thể trinh thám – hình sự, hay loại truyện vụ án, nhưng thật ra các truyện của tập Túi truyện… này đã có sự cách tân, phá cách, “phá” cả về nội dung và cả hình thức thi pháp. “Trinh thám” hay “vụ án” ở đây chỉ là một sự vay mượn hình thức thể loại.

Về phương diện đề tài, truyện vụ án ở đây thực chất là những câu chuyện đời thường dung dị. Các vụ án được mô tả trong truyện không phải là những vụ án lớn tới mức rung chuyển dư luận mà nhiều khi chỉ là những đổ vỡ, mất mát bi kịch mà xã hội không thể bỏ qua về phương diện pháp lý, hoặc bắt buộc phải có sự can thiệp của cảnh sát, thanh tra. Dù có bị tử hình, câu chuyện của nhân vật tội phạm vẫn diễn ra như câu chuyện của đời thường, gắn liền với những vui buồn thường nhật của thế giới nhân sinh.

Về nhân vật, nhân vật của Karel Čapek ở đây không có nhân vật thám tử nổi danh, tài ba mà chỉ là những thám tử nghiệp dư, có bóng dáng dân gian hoặc những cảnh sát điều tra ở các phòng cảnh sát quận huyện, giàu kinh nghiệm. Thế giới nhân vật trong truyện là thế giới của những con người đời thường, con người nhỏ bé, hiện ra quen thuộc trong văn học Nga và văn học Đông – Trung Âu cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Bằng cái nhìn nhân ái nhưng rất hiện thực về đời sống nhân dân, Čapek đã phủ lên toàn bộ các vụ án mình kể trong tập truyện này một tư tưởng cơ bản: Tòa án cao nhất, nghiêm khắc nhất là tòa án lương tâm; Phiên tòa tối cao là Phiên tòa cuối cùng – phiên tòa của Chúa – nơi Chúa với tư cách của người làm chứng, vì biết hết mọi chuyện của mỗi người ở mọi chỗ mọi nơi, từ bé đến lớn, đến khi phạm tội. Trong phiên tòa của ngày tận thế ấy, thẩm phán chỉ biết tội lỗi, còn Chúa biết cả cuộc đời người, vì vậy chỉ thẩm phán xử được, còn Chúa, hoàn toàn bất lực. Với Chúa, không thể xử án được con người… Karel Čapek viết truyện vụ án không chỉ bằng lý trí, sự tinh tế, mà còn bằng trái tim nhân hậu.

Có ý kiến cho rằng, thông qua các câu chuyện về các phiên tòa, Karel Čapek, cây bút nhân văn chủ nghĩa muốn khẳng định một chủ nghĩa tương đối (relativismus) trong lĩnh vực tư pháp. Theo ông, chân lý không bao giờ bộc lộ đầy đủ và biểu hiện một cách rõ ràng, chính xác. Tất cả đều phụ thuộc vào góc nhìn của người săn tìm.

Truyện các vụ án của Karel Čapek là một đặc sản tinh thần Czech. Phần lớn các truyện ông kể đều có giọng điệu khôi hài, trào tiếu, nhưng đầy nhân văn. Một cảnh sát điều tra vụ một thanh niên đóng gạch vì tức giận đã ném đá gây thương tật cho một lão địa chủ, ngoài nhiệm vụ điều tra hình sự thì ông ta tập trung cho việc tìm ra kỷ lục gia ném tạ để mang lại vinh quang cho quốc gia, dân tộc. Một tội phạm biển thủ công quỹ, bỏ trốn ba năm thì tiêu hết tiền rồi rơi vào buồn bã, cô đơn nên lộ diện, bị bắt. Viên cảnh sát biết hoàn cảnh ấy thì cảm thông, thương xót, tìm mọi cách xin giảm án cho tội phạm… Có anh lính bị sốt, co chân đứng tì gối lên giường cho mỏi để đón viên Tổng trưởng quân y đến thăm. Vì tính tình quan liêu, hách dịch, ngài Tổng trưởng nhìn nhầm, tưởng anh ta cụt chân, nên đuổi về hậu phương. Sống trong hoàn cảnh che dấu cái chân thật để hưởng tiền trợ cấp thương binh, mấy năm sau anh ta thấy chân teo lại, giống như đang phải đi chân giả. Cố gắng rất nhiều nhưng anh không lấy được cảm giác có chân. Anh muốn đầu thú để lấy lại cảm giác làm người lành lặn, nhưng chính quyền không làm thủ tục hành chính cho anh thành người hai chân. Tác giả cho rằng, chỉ có “lương tâm trong sáng mới là phương pháp vệ sinh tốt nhất” cho cơ thể…

Nhiều truyện của Karel Čapek mang phong cách phóng sự. Điều này dễ hiểu vì bản thân ông là một nhà báo chuyên nghiệp, sự ảnh hưởng qua lại giữa hai hình thái thông tin là tất yếu. Điều cần khẳng định là truyện hình sự của ông thấm đượm chất thơ. Hoa cúc xanh là một câu chuyện nên thơ. Người kể truyện ở đó như một thám tử của cái đẹp, đi tìm những loài hoa hiếm. Hóa ra loài hoa ấy chỉ mọc khuất sau đường tàu, trong khu đất cấm, không người qua lại. Dường như hoa cúc xanh cũng chỉ nở riêng cho cô bé Klara tội nghiệp, đáng thương giữa đời. Hình ảnh nhân vật cô bé câm điếc với bông cúc xanh trong tay hiện lên trong truyện mang ý nghĩa biểu tượng: biểu tượng của cái đẹp. Giống như những hạt bụi vàng lẫn trong đất đá của cuộc đời lầm lũi, bụi vàng ấy chỉ hiện ra lấp lánh trong con mắt nhà văn.

Túi truyện có thể không phải là tác phẩm tiêu biểu nhất trong sự nghiệp nhà văn. Nhắc đến Karel Čapek, người ta nhớ đến tập truyện triết học Thánh giá (Boží muka,1917), các tiểu thuyết: Nhà máy tuyệt đối (Továrna na absolutno ,1922), Thuốc nổ (Krakatit,1922), đặc biệt là các vở kịch nổi tiếng như: Những mối tình trò chơi số phận (Lásky hra osudná, 1910), RUR (1920), Đời sống côn trùng (Ze života hmyzu,1921), Bệnh trắng (Bilá nemoc, 1927), Đấng sáng tạo Adam (Adam stvořitel, 1927), Người mẹ (1938)…

Nhà văn Karel Čapek đăng đàn khi văn học châu Âu đang rơi vào khủng hoảng, một sự khủng hoảng biểu hiện trước hết là trong trạng thái “chồng lấn, mập mờ” giữa văn học đại chúng và văn học tinh hoa. Độc giả khó lòng phân biệt và chọn lựa một trong hai dòng văn học giải trí và văn chương đích thực. Čapek xuất hiện như một sự đáp ứng kịp thời nhu cầu thẩm mỹ của thời đại. Kịch bản và văn chương triết học, gắn với các chủ đề khoa học viễn tưởng, văn minh công nghệ của ông thực sự là những tiếng nói nghệ thuật mới, mở thêm một con đường phát triển cho văn học châu Âu. Vì vậy, ngay lúc sinh thời cho đến lúc qua đời, các tác phẩm của ông đã được dịch ra hàng chục thứ tiếng trên thế giới. Trong dòng chảy của văn hóa Czech và văn hóa châu Âu, Karel Čapek vẫn như một cây đại thụ lặng lẽ tỏa bóng vào sáng tác của những nhà văn hiện đại và hậu hiện đại hôm nay.

Bản dịch tập truyện này là thành quả dịch thuật kết tinh nhiệt tình lao động và tài năng của Kỹ sư Phạm Công Tú. Ngôn ngữ, cách tư duy của Karel Čapek là ngôn ngữ xa cách chúng ta gần 100 năm. Nhiều khái niệm, mệnh đề nhà văn sử dụng trong tác phẩm này đặt ra trước mắt dịch giả như những thách đố của văn hóa ngôn từ. Nhưng nhờ năng khiếu bẩm sinh và kinh nghiệm ngôn ngữ, với tâm hồn thi sỹ, nhất là bằng niềm say mê văn học và động lực tri ân đất nước – con người Tiệp Khắc, dịch giả đã gần như vượt qua tất cả. Nhờ vậy, độc giả Việt Nam chúng ta hôm nay đã có trong tay tác phẩm đặc sắc của Karel Čapek. Với bản dịch này là ta có thêm một nhịp cầu nối đôi bờ văn hóa Tiệp Khắc-Việt Nam.

Advertisements

About hoingovanchuong

Nhà văn
Bài này đã được đăng trong 05.Phê bình-lý luận và được gắn thẻ , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s