DU TỬ LÊ – MỘT ĐỜI SÔNG RA BIỂN…

Du Tử Lê thăm Nguyễn Trọng Tạo tại Hà Nội, 2004 - Photo: Nguyễn Đình Toán

Du Tử Lê thăm Nguyễn Trọng Tạo tại Hà Nội, 2004 – Photo: Nguyễn Đình Toán

NTT: Một ngày lâu lắm rồi (1992?), Du Tử Lê gõ của nhà tôi. Và chúng tôi gặp nhau từ đó. Rượu. Không. Bia. Không. Cafe, thuốc lá, bạn và Thơ. Huế – Hà Nội – Sài Gòn… những lần gặp nhau, hẹn trước, không hẹn trước. Một lần anh và Hạnh Tuyền từ Hoa Kỳ nhờ tôi vẽ bìa tập thơ “Thơ tình Du Tử Lê”. Cuốn sách đã được in tại Việt Nam.

Hôn nay, tôi vừa đến Huế thì nhận được tin ngày 13.8, anh và Hạnh Tuyền bay từ Sài Gòn ra, và sẽ có cuộc giao lưu tại Huế vào ngày 14. Vui quá, lại gặp nhau.

Theo thông báo của nhà thơ Hồ Đăng Thanh Ngọc:
“Nhân dịp nhà thơ Du Tử Lê đến chơi Huế, kính mời Quý Anh Chị, Bạn Hữu cùng tham dự buổi giao lưu “Du Tử Lê và bằng hữu” tại Nhà sách Phương Nam 15 Lê Lợi – Huế, lúc 15 giờ chiều 14/8/2016. Chương trình sẽ trình diễn thơ của nhà thơ Du Tử Lê và một số ca khúc phổ từ thơ Du Tử Lê, dĩ nhiên có “Khúc Thụy du”nổi tiếng; sẽ dành nhiều thời gian để công chúng giao lưu với nhà thơ Du Tử Lê”.

DU TỬ LÊ – MỘT ĐỜI SÔNG RA BIỂN…

PHÙNG TẤN ĐÔNG

Đã 40 năm xa xứ, thơ ông như một ấn chứng của những liền lạc trong tâm thức người Việt sau những đoạn lìa, mất mát, những ngộ nhận không tránh khỏi bởi chiến tranh, và chính thơ đã soi sáng con đường hòa hợp bởi mãi mãi thơ mang những tự tình dân tộc khó lòng dứt bỏ…

Ông sinh ngày 10.11.1942 tại làng Vân Lâm (Kim Bảng, Hà Nam). Đời thơ Du Tử Lê cũng như thân phận của bao người Việt xa xứ, lúc nào cũng mang “nỗi sầu xứ” gần như chung mệnh. Sau Hiệp định Genève 1954, Lê Cự Phách – tên thật của ông – cùng gia đình di cư vào Nam. Đầu tiên ông định cư ở phố cổ Hội An, sau đó ra Đà Nẵng. Đến năm 1956, ông vào Sài Gòn, theo học trường Trần Lực, trường Chu Văn An và Đại học Văn Khoa. Bút hiệu Du Tử Lê lần đầu xuất hiện vào năm 1958 cùng bài thơ “Bến tâm hồn” đăng trên Tạp chí Mai, xuất bản tại Sài Gòn.

Ngay ở bài thơ đầu tay, ông đã nói về một xa lìa của hồn mình với dòng sông xứ Bắc, với mây trời, mưa lũ, với “bờ hoang, bến quạnh” và dường như từ thuở tuổi 16 đã chất ngất trong ông một “nỗi niềm cố lý”: “Lênh đênh hồn phủ phương này/ Thương mưa Hà Nội nhớ mây Hồng Hà/ Mười năm dài những xót xa/ Bờ hoang bến quạnh thiết tha ngọn nguồn…”. Khi đọc “Năm mười sáu tuổi tôi chính thức khai sinh tên tôi lần thứ hai/ sau lần khai sinh của bố mẹ/ Từ đó tôi bắt đầu làm thơ/ tôi bắt đầu sống – bắt đầu đời tôi/ như con sông bắt đầu ra biển” (Tôi, Du Tử Lê), nhà phê bình Nguyễn Thị Khánh Minh phát hiện “A. Vừa bắt đầu là có điểm hẹn với bao la rồi. Biển. Nhưng người thơ ơi. Bước hăm hở ấy qua mấy ghềnh thác?” (www.dutule.com).

Rồi trong dài dặc chiến tranh, trong vai một người lính của chế độ cũ, người thơ Du Tử Lê thường nói về sự cô đơn, điêu linh, hoang hoải, sự tàn hủy cả tạo vật bên ngoài lẫn bên trong tâm thức con người của chiến tranh: “đêm có sông/ có đồng cát lở/ đêm có khăn tang/ quấn phủ đầu mình/ đêm vuốt mặt anh – đêm ủ mặt em/ đêm có một mình – có một mình anh”. Du Tử Lê chọn nói về tình yêu đôi lứa như một miền đất hứa để cứu vãn những tàn hoại của chiến tranh, nhưng chung cuộc thơ vẫn là kẻ thua cuộc: “Người về đâu không người không về đâu/ chiều chưa mưa nên chiều chưa thay màu/ tôi cây me đứng rung từng lá/ lá vàng rồi tôi cũng vàng theo…/ khi người về tôi không buồn không trông/ lòng tôi sông nước đủ trăm dòng/ quanh co một nỗi buồn vô hạn/ qua suốt một đời vẫn nhớ thương” (Khi người về).

Trước 1975, những người yêu thích tình ca thời chiến ở miền Nam thường nghe những bài hát mà ca từ được trích để phổ nhạc là thơ Du Tử Lê, như “Trên ngọn tình sầu” (nhạc Từ Công Phụng), “Khi cuộc tình đã chết” (nhạc Phạm Đình Chương),… Thơ Du Tử Lê thường viết về những cuộc tình dang dở, những chia biệt buồn sầu, đau đớn trên nền cảnh chiến tranh, tao loạn với ngôn từ gần gụi, dễ cảm nhưng không thiếu những thi ảnh lạ do sự chọn lựa đầy thi tính của người viết – điều đã khiến ngôn từ vừa tàn hủy vừa tái sinh khi được đứng cùng nhau trong câu chữ kiểu “tóc thề nẻo gió”, “mắt xa nghìn núi lạ”, “ngực hai mươi hai mốt”, “một hồn đầy môi người”, “mắt lá me”, “môi đưa bão gió”, “nhớ cơn mơ lẻ”, “đêm bưng mặt”, “máu rất buồn”…

Thơ ông luôn ngơ ngác trước định phận tao loạn của tình yêu và thân phận trong thời chiến: “Như con chim bói cá/ tôi lặn sâu trong bùn/ hoài công tìm ý nghĩa/ của cảnh tình hôm nay” (Khúc thụy du). Quê hương và người tình luôn đồng nhất trong ông như một tình tự dân tộc, niềm yêu miên viễn mà ông khó dứt bỏ, vì lẽ ấy chăng, mà năm 1977 khi xa cố xứ, ông có bài “Khi tôi chết hãy mang tôi ra biển”: “Khi tôi chết hãy mang tôi ra biển/ đời lưu vong không cả một ngôi mồ/ vùi đất lạ thịt xương e khó rã/ hồn không đi sao trở lại quê nhà/ khi tôi chết hãy đem tôi ra biển/ nước ngược dòng sẽ đẩy xác trôi đi/ bên kia biển là quê hương tôi đó/ rặng tre xưa muôn tuổi vẫn xanh rì…”. Thơ ông từ đó càng thêm day dứt vì nỗi sầu xứ như ông thú nhận: “Đời lưu vong tận tuyệt với linh hồn”.

Du Tử Lê được giới nghiên cứu đánh giá là một khuôn mặt độc đáo – vừa rất dân tộc, vừa rất đương đại của thơ Việt hải ngoại. Thơ ông được chọn (một trong 5 tác giả Việt Nam) để in vào cuốn “Thế kỷ XX: Thi ca Việt Nam” khi tái bản tuyển tập: “World Poetry An Anthology of Verse From Antiquyti to Our Present Time” (Tuyển tập thi ca thế giới từ xưa đến nay) của Nhà xuất bản W.W.Norton, New York, năm 1998.

Du Tử Lê có nhiều đóng góp vào việc cách tân thơ lục bát theo lối chấm, phẩy, cách dòng giữa câu kiểu như “đứng. đi. tôi đó. nói. cười/ lúc quay lưng lại tôi ngùi, ngậm tôi”, “cuối cùng đời xuống mênh mông/ hồn đi thu bãi, lòng không, tiếp trời” (Mưa hình dung H.T). Du Tử Lê có những câu thơ hay đến “lạnh người” khi ông nhớ người mẹ, nhớ nơi chôn nhau cắt rốn, nhớ cả chiếc nhau mình: “Gọi ai gió nổi bốn trời/ chiếc nhau tôi lạnh phía đời bên kia” (Thấy bình minh trên sa mạc Utah, Nhớ Mẹ Già).

Cuối cùng, thì người thơ đa đoan với nỗi buồn nhớ ấy đã quay về tuổi nhỏ, với dòng sông cố lý bằng hành trình “thiền ý” – một quy hồi tâm tưởng và một “điểm hẹn rực rỡ” (chữ của Khánh Minh) đầy nhân bản ở nẻo về: “Cúi xuống một dòng sông/ nhớ gì không bé dại?/ nghe tự hồn lược gương/ tuổi thơ quành bước lại…”.

Ông có hai lần trở về quê hương sau 1975, lần thứ nhất bằng tác phẩm, đó là tập “Thơ Du Tử Lê” do NXB Văn nghệ TPHCM in năm 2005, và lần thứ hai ông về bằng xương bằng thịt vào đầu tháng 6.2014, đồng thời với việc xuất bản tập thơ “Giỏ hoa thời mới lớn” (Cty Truyền thông Liên Việt, NXB Hội Nhà văn ấn hành 2014).

About hoingovanchuong

Nhà văn
Bài này đã được đăng trong 03.Chuyện làng văn, 05.Phê bình-lý luận. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s