3 BÀI VIẾT CỦA CON TRAI VỀ GS. NGỤY NHƯ KONTUM

NguyHuuTamCNVH

NGUYỄN TRỌNG TẠO: Tiến sĩ Vật lý Ngụy Hữu Tâm là con trai nhà vật lý, Gs Ngụy Như Kontum (hiệu trưởng đầu tiên của Đại học tổng hợp Hà Nội). Gần đây, anh đã cho xuất bản liên tiếp 2 cuốn sách “Văn học qua lăng kính Vật lý” và “Cảm nhận văn chương” dày tổng cộng 1500 trang với rất nhiều kiến thức và luận giải sâu rộng, đọc khá thú vị. Dưới đây là 3 bài viết về người cha thân yêu của anh:

.

NHỚ “THẦY TUM”

Xin bạn đọc cho phép tôi, nhân dịp Kỷ niệm 100 năm ngày sinh giáo sư Ngụy Như Kontum, được gọi ông bằng cái tên thân mật này, như các bậc tiền bối của chúng ta trong các ngành giáo dục và khoa học kỹ thuật  thường vẫn gọi ông như vậy.

Chúng ta tự hào là ngành khoa học kỹ thuật Việt Nam đã từng có một người như vậy tham gia xây dựng.

Có những thông tin mà hầu như ai cũng biết, chẳng hạn „Thầy Tum“ là học trò Fréderick Joliot-Curie, giải Nobel vật lý. Nhưng với sự bùng nổ thông tin như hiện nay thì biết như vậy quá ư bình thường. Cái quan trọng là những gì đứng đằng sau đó. Chúng ta cứ tưởng tượng xem, ai trong chúng ta được hưởng diễm phúc từng làm việc trong nhóm các nhà khoa học có người được giải Nobel?

„Thầy Tum“ về nước năm 1939 khi Thế chiến hai bùng nổ, Đức đánh Pháp, phòng thí nghiệm của GS. Joliot-Curie vì làm về vật lý hạt nhân thuộc diện tuyệt mật, và „Thầy Tum“ không mang quốc tịch Pháp dĩ nhiên sẽ bị loại.

  1. Joliot-Curie bảo học trò mình: „Anh có thể lựa chọn giữa nhập tịch Pháp và về nước“. Ở lại làm khoa học hay hết ý rồi, miễn bàn, nhưng ông lại khuyên cậu học trò yêu „về nước vì nước Việt Nam cần anh hơn, và anh giúp đất nước anh được nhiều hơn“.

Đúng vậy, có thế thì Hội Vật lý Việt Nam ta mới có „Thầy Tum“ là vị Chủ tịch đầu tiên của mình.

Còn một điều thú vị liên quan đến thông tin này mà nhân đây xin kể ra vì chắc ít người biết.

Vì sao „Thầy Tum“ được người Trung Quốc tiếp đón hết sức trọng thị mỗi lần có dịp ghé qua?

Đó là vì trong nhóm các thận cận của GS. Fréderick Joliot-Curie còn có Tiền Tam Cường. Ông này ở lại tiếp tục làm việc cho đến khi thành lập nước CHND Trung Hoa mới về nước. Dĩ nhiên ông có tham gia cùng GS. Fréderick Joliot-Curie và các nhà khoa học Pháp chế tạo thành công quả bom nguyên tử đầu tiên của nước Pháp. Tiền Tam Cường sau đó là Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc.

Thế giới đánh giá, cùng với Chu Bùi Nguyên, nhà vật lý lý thuyết người Hoa làm việc tại Hoa Kỳ, giải Nobel vật lý, thì Tiền Tam Cường là cha đẻ quả bom nguyên tử Trung Quốc. Một người chịu trách nhiệm về lý thuyết, người kia thực nghiệm. Với giới vật lý chúng ta, không thế thì mới lạ!

Thông tin thứ hai mà tôi muốn chia xẻ cùng bạn đọc „Vật lý ngày nay“ là điều mà ngay cả các con của „Thầy Tum“ cũng chỉ được biết sau giải phóng Miền Nam, 30.4.1975. Bức ảnh cưới được các cụ giữ kín mà chỉ ngày đó gia đình mới được xem. „Thầy Tum“ bảo các con, người khiêm tốn đứng hàng ba sau một phụ nữ phía sau là phù rể, chính là Ông Ngô Đình Nhu. Có lẽ với bạn đọc trẻ, sẽ ngạc nhiên nếu phải giữ mật thông tin đó lâu đến thế, nhưng với anh em thế hệ chúng ta thì chẳng đáng ngạc nhiên đến thế, không những vậy, tất yếu phải thế.

Nhưng điều quan trọng hơn mà chúng ta rút ra được là lịch sử dân tộc Việt Nam quá ư bi ai.

Chẳng kém gì dân tộc Đức nay Hàn Quốc, những nước vốn hay đang bị chia cắt như chúng ta, cũng đã từng bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Thế mà hai dân tộc đó nay vươn lên để cả thế giới phải kính nể.

Sự khác biệt quá lớn dù cùng bị chiến tranh tàn phá và từng bị chia cắt nhưng vẫn dũng cảm đứng lên.

Thế nhưng chúng ta thì thế nào, chiến tranh cũng đã qua đi cả non bốn chục năm nay rồi. Phải chăng chúng ta đã quá ư tự kiêu về chiến thắng? Và như một học giả nhận xét, sau chiến tranh,  nhân dân nước chiến thắng lại là những người phải hứng chịu đau khổ nhiều nhất.

Vậy thì chúng ta phải làm gì để có thể ngẩng cao đầu, cả trong khoa học? Cứ cho là trước hết trong khu vực Đông Nam Á này đã.

Và điều đó thì không còn phụ thuộc thế hệ chúng tôi nữa rồi, mà phụ thuộc các bạn trẻ, đang và sẽ làm bằng tiến sĩ, nhưng mong đừng là „tiến sĩ giấy“ mà là những người thật sự có những đóng góp lớn cho khoa học nước nhà như các nhà khoa học tiền bối đã có công tham gia dựng nước.

.

NHỚ CHA TÔI, GS. NGỤY NHƯ KONTUM

Một vài ý nghĩ để tưởng nhớ GS. Ngụy Như Kontum nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh Người.

Cho phép tôi hôm nay nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh bố tôi viết ít dòng tưởng nhớ đến Người  như để thắp nén hương dâng lên bàn thờ Người, tỏ lòng hết sức thương tiếc và kính trọng, nhưng trên hết để ở tư cách con trưởng, thay mặt tất cả các em (kể cả dâu rể) trong nhà, và các con và cháu tôi, người ở Sydney, Australia, người ở Praha, Cộng Hòa Séc cùng gia đình, được tá lßng cám ơn bậc sinh thành, dù cho cái ơn này lớn tới mức chẳng có lời nào lột tả nổi.

Ít dòng này cũng là để nhắc lại những kỷ niệm với Người, dẫu sao tôi cũng có cái may mắn đã được sống một khoảng thời gian không hề nhỏ là 57 năm, trên nửa thế kỷ, bên Người, dù là không liên tục, bởi lẽ – nay với tình hình thế giới đã phẳng, nghĩa là toàn cầu hóa và việc đi học tập và công tác nước ngoài là hết sức bình thường đối với các bạn trẻ nhưng với chúng tôi thời đó là ân huệ vô cùng lớn – tổng cộng cả cuộc đời, tôi đã đi học và công tác ngoài nước trên chục năm.

Cũng xin phép được nhắc lại, bố mẹ tôi sinh được 4 người con, tôi là con trưởng, sinh tại Thành phố Thanh Hóa một năm ngay sau năm 1943, năm cưới bố mẹ tôi tại Hà Nội. Sau tôi 2 năm là cô em Ngụy Tuyết Nhung sinh năm toàn quốc kháng chiến, rồi Ngụy Hữu Dũng sinh sau 2 năm nữa nhưng mất ngay khi đang còn ẵm ngửa vì sự ác liệt của chiến tranh thời đó, do thiếu thốn thuốc men và điều kiện y tế nói chung. Năm 1951 gia đình chúng tôi sang Nam Ninh, Trung Quốc, khi bố tôi đang làm Giám đốc Trung học vụ thuộc Bộ Giáo dục, được cấp trên điều động sang công tác khác: xây dựng Khu học xá Trung ương để đào tạo những cán bộ cốt cán trong tương lai cho ngành giáo dục nói riêng nhưng cũng cho cả nhiều ngành khác, như chúng ta thấy sau này. Ở đó tuy điều kiện có khá hơn ở nước ta một chút, nhưng bạn đọc phải nhớ, nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa cũng chỉ mới ra đời 1949 nên vẫn rất nghèo nàn, đơn sơ, nên mẹ tôi mắc bệnh lao và chỉ đến đầu 1955, khi về lại Hà Nội mẹ tôi mới khỏi hẳn, nên mãi 1956 mới sinh cậu út: Ngụy Hữu Chí.

Kể từ năm đó đến nay thấm thóat đã 57 năm trôi qua. Sau bao biến cố lịch sử của đất nước dũng cảm nhưng cũng đầy gian truân này, nhất là lại là tâm điểm của cuộc tranh đua đầy bi ai giữa các hệ tư tưởng ở cái thế giới thời kỳ đầy biến động là giữa và cuối thế kỷ 20 sang 21, thì cậu em út này, người kém may mắn nhất nhà, sau khi đã phải bỏ giữa chừng Khoa Lý, Đại học Tổng hợp Hà Nội, để tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Miền Nam, về học lại, rồi đi nghiên cứu sinh tại Viện Hàn lâm Khoa học CHDC Đức, sau sự kiện bức tường Berlin đổ 1989, đã an cư lạc nghiệp cùng gia đình tại Munich, CHLB Đức, nghiễm nhiên trở thành „Việt Kiều yêu nước“. Cô em Ngụy Tuyết Nhung cũng đã về hưu từ 7 năm nay, nhưng vẫn là một nữ trí thức đầy nhiệt huyết, vẫn hoạt động khoa học ở tư cách phó giáo sư, tiến sĩ – vẫn tham gia giảng dạy tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên và vẫn hoạt động xã hội ở tư cách giám đốc một doanh nghiệp tư nhân. Ở đây có lẽ cũng nên mở ngoặc, Người rất gương mẫu khi cho con út nhập ngũ, dù đang học ở trường, khi Tổ quốc gọi. Vẫn có những người khi đó tìm cách tránh người thân mình làm việc này!

Còn bản thân tôi, sau một cuộc đời đầy biến động cũng đã về hưu từ 8 năm nay, và vẫn đang tích cực hoạt động ở những lĩnh vực mà sau 42 năm công tác nghiên cứu khoa học và giảng dạy mà cá nhân mình đã tích lũy được, cụ thể là trong ngành du lịch và sách báo.

Được như ngày nay, ở những vị trí xã hội mà dẫu khiêm tốn cũng phải nói là không phải ai cũng có được, đó không chỉ là nỗ lực bản thân, mà trên hết là được sinh thành trong một gia đình trí thức giàu truyền thống yêu nước. Ông nội tôi, dù chỉ là công chức bậc thấp, cũng xuất thân một gia đình có gốc gác, gia phả đàng hoàng ở cố đô Huế và đã lên khai phá Tây Nguyên ngay từ đầu thế kỷ 20.

Còn bố tôi, như bạn đọc đã thấy từ tiểu sử Người, là trí thức Tây học bậc hàng đầu những năm 30 – 40 thế kỷ trước, cũng mang truyền thống gia đình giàu lòng yêu nước mà tôi dám tự hào gói gọn ở khái niệm, mà vì Người đã ra đi cả trên 30 năm nên có thể tạm kết luận, „tài đức vẹn toàn“.

Nhờ sinh ra trong một gia đình với truyền thống như vậy, nhất là một ông bố „tài đức vẹn toàn“ như thế, mà chúng tôi đã được như ngày nay, dù mỗi người đều đi theo những con đường mà „Chúa Trời“ đã định. Dù ở bất cứ vị trí nào trong xã hội, làm bất cứ việc gì, chúng tôi vẫn không áy náy trước lương tâm rằng, chúng tôi trước hết phụng sự cái gia đình nhỏ nhoi của mình, rồi nói rộng ra là cái gia đình lớn gồm anh em, con cái, cháu chắt, họ hàng nội ngoại, dâu rể như truyền thống dân tộc, và rộng nhất là dân tộc Việt, đất nước Việt Nam yêu dấu, dù ở bất cứ nơi nào trên Trái Đất này, và các con cháu Người luôn nhớ rằng mình có thể tự hào là con, là cháu một người với trước hết là nhân cách lồng lộng như Người, trước hết ở tình yêu nước thể hiện ngay ở tình cảm chân thành, nhân bản sơ đẳng nhất đối với con cái, cháu chắt, bạn bè, đồng nghiệp, người dưới quyền, nên ai ai vẫn nhớ, dù cho Người ra đi nay đã 22 năm.

Đối với chúng tôi, ấn tượng sâu sắc nhất ở Người là luôn chân thành, tận tụy, vui vẻ, cởi mở và điều đáng quý nhất là, luôn trung thực. Tôi nghĩ có lẽ đó là đức tính quí nhất ở mỗi con người nói riêng và ở lòai người nói chung, bởi lẽ với tôi điều đáng sợ nhất chính là sự giả dối, bởi vì, mất niềm tin là mất tất cả, vì khi người ta chỉ một lần nói dối, thì ai còn dám tin rằng những lời sau là thật nữa? Đó là cái đích đáng đến ở đời chứ không phải những hư danh mà ai cũng thấy nhan nhản. Dù cho cả 57 năm, từ nhỏ đến khi đã trưởng thành, chưa bao giờ Người nói với tôi phải làm gì, nhưng tôi vẫn đủ tự biết, vì luôn có Người làm tấm gương (sáng) cho mình. May mắn thay cho chúng tôi có được một người bố như vậy.

Bố tôi, như sau này mọi người đều thấy, dù là người „khai quốc công thần – có công tham gia dựng nước“, nhưng lại hết sức giản dị, đời thường, không màng công danh, địa vị, có lẽ chính vì thế mà ngay khi phải quyết định có nhận chức bộ trưởng hay không thì bố tôi đã từ chối. Cũng vì lẽ đó mà riêng cá nhân tôi cũng tự hào là với truyền thống đó, tôi đã từ chối những cơ hội thăng tiến để dừng ngay ở bậc thấp nhất của sự nghiệp viên chức là…phó trưởng phòng, sau 43 năm công tác về nhận sổ hưu ở bậc…nghiên cứu viên.

Bố tôi có công tham gia dựng nước, còn tôi thì chỉ là một thằng phá phách, thế nhưng tôi hoàn toàn không ân hận về việc đó, bởi lẽ mỗi người có phận của mình, số phận đã an bài như người Đức nói „jedem das seine“, người Pháp cũng vậy, „chacun a son sort“, cái nghiệp nghiên cứu vốn dĩ là vậy mà, luôn phải „phản biện“, luôn phải lật ngược vấn đề. Mỗi người có cái hoàn cảnh của mình, vì sinh ra ở những thời khác nhau. Cái phải giữ là nhân cách, để sau này khi mình ra đi (cố để) không ai óan trách. Và đề có nhân cách, phải có lương tâm, đó có lẽ là cái tấm gương mà bất cứ ai, bất cứ thời nào và ở bất cứ ở đâu, luôn phải soi vào. Tôi nghĩ, đó là trách nhiệm với mọi người và trước hết là với chính mình, có vậy thì mình mới hoàn thành tốt công việc mình định làm hay được (cấp trên hay người khác) giao. Ngay khi được giao một phòng chỉ 20 cán bộ mà tôi thấy khó thế, mà Người được giao trách nhiệm đứng đầu một trường đại học với hàng trăm cán bộ, hàng ngàn sinh viên, trong…25 năm!

Làm sao mà Người có thể đứng lâu ở vị trí nhiều quyền lực nhưng cũng đầy khó khăn như vậy? Có lẽ Người đạt được điều đó là vì bản chất hiền hòa, ghét bạo lực nên không bao giờ nghĩ tới việc phải dùng nó. Người đủ tài, đủ thông minh để tìm cách thuyết phục người cấp dưới. Và trên hết, có lẽ cũng phải nhấn mạnh điều này, Người biết chịu nhịn hay nói nặng hơn là nhịn nhục. Làm sao một người học cao, biết rộng như vậy lại có thể chập nhận sống ở một cộng đồng nói chung phải nói rằng là thời đó trình độ hiểu biết còn hết sức thấp, ở một thời lọan lạc, đầy biến động, đầy bạo lực như vậy. Chỉ có người, dẫu Tây học nhưng vẫn đầy chất Phật giáo trong người (tôi bỗng nghĩ có lẽ đất Huế vốn giàu chất Phật là chuyện thường tình, cô và bác tôi suốt đời không xuất giá, ở nhà đọc kinh, niệm Phật, theo Đạo tại gia). Bố tôi kể, thời Nhân văn Giai phẩm, có sinh viên quá khích đòi „lấy máu“ bố tôi, Người bình tính giơ cánh tay ra bảo: „đây máu tôi đây, anh có muốn lấy thì cứ lấy đi!“. Tôi trộm nghĩ có lẽ thành đạt ở đời, nói theo nghĩa rộng nhất là đạt đến hạnh phúc, trước hết phải là biết dẹp cái ác, tăng cái thiện trong chính người mình chăng?

Người bỏ nước Pháp đang lao vào cuộc chiến, nhóm nghiên cứu khoa học của Người lao vào việc chế tạo quả bom nguyên tử hủy diệt hàng loạt, để về phụng sự đất nước còn hết sức nghèo nàn, lạc hậu theo lời khuyên của người thầy Pháp, một người cộng sản. Thế nhưng đất nước liên miên lao vào nhiều cuộc chiến, nhân dân mãi mãi đói khổ, mất tự do, 1979 Trung Quốc đánh nước ta, 1990 Liên Xô và khối Đông Âu sụp đổ, tôi thấy Người buồn lắm. Những ước vọng của mình không hoàn thành dù ở mức khiêm tốn. Về cá nhân, Người tìm người thay thế mình ở cương vị hiệu trưởng thì người đó lên thẳng Bộ trưởng rồi còn lên tận tới chức ủy viên Bộ chính trị! Thế nên Người ra đi năm 1991 ở tuổi 78 là một quyết định dũng cảm, Người nghĩ là Người đã làm hết phận sự của mình, xã hội chẳng cần tới Người nữa, riêng trong gia đình chúng tôi cũng nhiều sự kiện buồn xảy ra, sức khỏe cũng không thật sự tốt vì đã phải mổ thận nhiều lần, thế nên việc ra đi sẽ là bình thường. Tôi đã phải đi hỏi các bác sĩ chuyên trách Người xem Người có nên đi họp Quốc hội trong Thành phố Hồ Chí Minh không, họ bảo đi là nguy hiểm, nhưng  tùy thôi, và Người đã quyết định đi và hôn mê trở về trên chiếc băng ca và chỉ sống tiếp một tuần rồi vĩnh viễn ra đi trong niềm thương tiếc của con cháu, bạn bè và người thân.

Về quan hệ với Trung Quốc, tôi nghĩ ấn tượng của Người về nước này là không hoàn toàn tốt, dù cho gia đình chúng tôi có gia phả gốc Phúc Kiến, Người có bạn công tác khoa học nhiều năm là người Hoa. Gia đình chúng tôi ở Nam Ninh hơn 3 năm. Nhiều lần Người qua Trung Quốc, lần nào cũng được hết sức trọng vọng. Nhưng Người vẫn không thích họ, vì có lẽ nói chung họ không thật, nhìn chung nham hiểm. Cái đó hoàn toàn khác hẳn với bản chất của Người nên tôi nghĩ đó là điều rất dễ hiểu. Tôi nhớ, có lần bố tôi kể, bố tôi được giao đi sắm thiết bị khoa học cho Trường Khoa học Cơ bản ở Khu học xá Trung ương tại Thượng Hải. Đi cùng với cán bộ người Trung Quốc, vì ông này là người chi tiền. Thế mà ông này…tham nhũng, không trung thực trong các thanh toán tài vụ.

Tôi nhớ, xin lỗi vì tôi rất dốt thơ vì về khỏan này trí nhớ hết sức kém, hình như thi sĩ Trần Dần, Phùng Quán hay ai đó trong nhóm „Nhân văn Giai phẩm“ những năm 1956, trong một bài thơ có nói tới, đại ý là, mẹ dạy, „con yêu ai thì bảo yêu, ghét ai thì bảo ghét dẫu cho (sau này ở đời bạo lực và cường quyền) có ai bảo khác đi nữa“. Bố tôi rất ghét sự dối trá. Mà cái đó thể hiện trước hết ở việc Người không khóai ngành thương mại, dù cho ngày hôm nay và cả thời trước ai cũng biết, „phi thương bất phú“, thế  nhưng ở đời, giàu có về của cải vật chất và hơn thế nữa, giàu có về giá trị tinh thần, mà giàu có cả hai thì tốt nhất là rõ rồi, nhưng cái nào cần hơn thì vẫn là tranh cãi muôn thuở. Cái „dị ứng“ này cũng đã thể hiện ở chỗ, tôi cố xét nét trong gia đình lớn các con cháu chắt Người có ai theo ngành thương mại không thì cho đến nay là chưa có, dù quan niệm này nay đã thay đổi rất nhiều rồi. Phải chăng cái chất „sĩ phu Bắc Hà“ thấm đậm trong tinh thần bố tôi?

 Để kết luận, tôi nghĩ bố tôi đã dành trọn cuộc đời cho khoa học và cũng đã hướng concái theo ngành đó. Ở đời có gì quí hơn là đi tìm sự thật, vì nó là vô cùng cần thiết, nhưng để đạt tới đó thì, bởi vì đấy là con đường vô cùng khó khăn, đầy chông gai, nên cần sự nỗ lực vô vàn, và chỉ có những người có ý chí mới dám lao vào sự nghiệp đó và đi tiếp cho đến chót, và chúng tôi, các con (kể cả dâu rể), kể cả cậu út nay cũng đã suýt soát 60, nghĩa là đã sắp về hưu, là đã đi đến đoạn chót cuộc đời, chúng tôi không bao giờ phụ ơn Người, luôn giữ mình là người ngay thẳng, trung thực, luôn lấy cái đức trung với nước, hiếu với dân làm chính. Ở đời có biết bao cái vụn vặt, tầm thường nhưng lại đầy ma lực cám dỗ như tiền tài, quyền lực và danh vọng cuốn hút, nhưng chúng tôi đều đã vượt qua được để ngày hôm nay có thể ngẩng cao đầu mà nói rằng, mình đã không phụ công ơn bậc sinh thành để dành nay là gần trọn cuộc đời mình cho gia đình mình, cho con cái mình nói riêng, và cho khoa học và cho dân tộc Việt Nam nói chung, cho dù ở bất cứ ở địa vị nào và ở đâu đi nữa. Chúng tôi đã cố gắng hết mình để không hổ thẹn với lương tâm và trước hết không hổ thẹn là, được làm con cháu Giáo sư Ngụy Như Kontum, người đã tham gia xây dựng nên nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ngày 2.9.1945, và sau đó là ngành giáo dục nói chung, Trường Đại học Tổng hợp và ngành vật lý Việt Nam nói

riêng.

Hà Nội, một ngày sau Tết Quý Tỵ

VỀ NGƯỜI SÁNG LẬP NGÀNH VẬT LÝ Ở NƯỚC TA

Giới thiệu về Giáo sư vật lý Ngụy Như Kontum từ giác độ người con viết về cha mình, nhưng cố gắng hơn thế một chút, một đồng nghiệp nhỏ cùng thời gian khai phá ngành này ở nước ta.

Anh Hiệu có giao cho tôi trách nhiệm viết một bài về người sáng lập ngành vật lý ở nước ta cho tờ “Vật Lý ngày nay” của Hội Vật Lý Việt Nam mà anh là Chủ tịch Hội đồng biên tập. Dễ mà lại cũng khó. Viết về người sáng lập ngành, mà là một ngành rất lớn như vật lý thì gần như là phong thánh cho người đó.

Với thế giới, tôi quan niệm người đó ở thế giới thế kỷ 20 và đầu 21 này chắc chắn phải là Albert Einstein. Tôi nghĩ đó là ý kiến không chỉ riêng những người trong ngành này trên thế giới hiện nay mà là của cả nhân loại. Giáo sư Ngụy Như Kontum với ngành vật lý ở nước ta, tôi cũng mạn phép nêu ý kiến tương tự.  Để đi đến kết luận đó, tôi nghĩ phải nhìn sự kiện từ giác độ quốc gia. Ông là người sinh ra hợp thời.

      Giáo sư Ngụy Như Kontum  sinh năm 1913 tại tỉnh Kontum và sống ở Tây Nguyên cả thời niên thiếu cho tới khi 13 tuổi, và như Người kể lại thì Người nói tiếng Ê Đê thạo hơn tiếng Việt, Thế nhưng cùng với những người đồng thời, Người đã sớm tiếp thu được những cái tinh túy nhất của văn hóa phương Tây. Tôi nhớ Người có kể khi gia đình về lại Huế, nhà ở Đường Bạch Đằng rất gần Chợ Đông Ba, nên Người được học Trường Quốc học Huế (đó là trường tốt nhất Huế), do thạo tiếng Ê Đê hơn tiếng Việt nên Người bị chúng bạn chế là“Mọi „. Vì vậy,  Người chăm học, học giỏi và có học bổng ra học Trường Bưởi ngoài Hà Nội. Không chỉ giỏi tiếng Việt mà giỏi cả Toán. Thi đỗ xuất sắc cả Tú tài Tây lẫn Tú tài bản xứ năm 1933 được thầy giáo người Pháp hướng vào học môn Vật lý, Người được nhận học bổng của Chính phủ Pháp và theo học École Normale Superieure , Trường Sorbone, là Grande École (là một trong những trường hàng đầu của ngành đại học Pháp) và là trường mạnh nhất trong những trường dạy các ngành khoa học cơ bản. Tốt nghiệp trường này 1936, Người thi đỗ Aggrégé (bằng thạc sĩ này thi mỗi năm một lần và có xếp thứ hạng, vì là kiểm tra kiến thức cơ bản nên rất có ý nghĩa với những người đi dạy học) và được nhận ngay vào làm việc tại Phòng thí nghiệm của Giáo sư Joliot-Curie (nhóm vật lý giải Nobel), trong nhóm  làm việc với Giáo sư Joliot-Curie có cả Tiền Tam Cường, nhà vật lý hàng đầu Trung Hoa, cha đẻ quả bom nguyên tử sau này của Trung Quốc. Năm 1939, Người đang làm luận văn Tiến sĩ thì Thế chiến Hai bùng nổ, Phòng thí nghiệm của Giáo sư Joliot-Curie  nghiên cứu về vật lý hạt nhân nên được Bộ Quốc phòng trưng dụng, nhân viên Phòng thí nghiệm này nhất thiết phải mang quốc tịch Pháp, Người đứng trước lựa chọn ở lại nghiên cứu vật lý ở đây thì phải vào quốc tịch Pháp, nên Người đã hỏi Giáo sư Joliot-Curie,  được Thầy khuyên “về nước, anh sẽ đóng góp được nhiều hơn cho tổ quốc anh „. Người đã làm theo lời khuyên của Thầy và với cuộc đời mình, Người cũng đã chứng minh rằng, đó là một lời khuyên hết sức đúng đắn.

Về nước năm 1939, chưa có đại học, người dạy trung học ở Sài Gòn và Hà Nội, bắt đầu từ những việc sơ đẳng nhất để xây dựng nền đại học đã, rồi mới nói tới vật lý được. Ở trường Bưởi, Người tổ chức Đoàn Sét để giáo dục tinh thần yêu nước cho thanh niên. Song song, Người viết báo để phổ biến kiến thức cho quần chúng, tham gia biên soạn từ điển tiếng Việt.

 Tháng 3/1945, Nhật hất Pháp khỏi Đông Dương, như các trí thức tiến bộ thời đó, Người có tham gia chính phủ Trần Trọng Kim, tháng 8/1945 Người lại tham gia cuộc Cách mạng Tháng Tám để dựng nên nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Với giác quan thánh thần, Người từ chối, không nhận chức bộ trưởng Giáo dục để làm Giám Đốc Trung Học Vụ, quyết định này không chỉ quan trọng cho ngành vật lý mà chung cho cả đất nước ta. Có vậy, khi lên chiến khu Việt Bắc tháng 12/1946 khi cuộc chiến tranh chống Pháp bùng nổ, Người mới có thể tập trung hết trí lực cho chất lượng trung học để các thế hệ đàn anh chúng tôi (tôi khóa 9 ĐHTH) đều mạnh dạn ra nước ngoài học và học rất giỏi. Rồi khi nhà nước cần có các giáo viên  trung học giỏi cho tương lai, cuối năm 1951 sang Nam Ninh làm Hiệu trường Trường khoa học cơ bản đào tạo giáo viên trung học, tiền thân của nền đại học nước nhà.

Dù bận công tác hành chính, Người vẫn đặc biệt quan tâm tới môn vật lý, viết những giáo trình vật lý; hòa bình lập lại về Hà Nội, Người cho xuất bản ngay các cuốn sách này để làm tài liệu giảng dạy sau này. Năm 1955 sau khi Hà Nội được giải phóng, Người về chuẩn bị để năm 1956 thành lập Trường Đại học Tổng hợp và Người là hiệu trưởng suốt 26 năm cho đến năm 1982. Ở bất cứ vị trí nào, bất cứ hoàn cảnh nào mà đó là thời loạn lạc của đất nước, Người vẫn chứng tỏ là một người yêu nước nhiệt thành, luôn gương mẫu khi là người đứng đầu, ở gia đình là người cha, ở cơ quan là thủ trưởng. Người luôn kết hợp được nhuần nhuyễn nhất hai khái niệm hơi mơ hồ nhưng lại rất thực tế „tài đức vẹn toàn‘‘.

Với riêng ngành vật lý, Người chẳng bao giờ quên dù năm 1939 Người phải rời bỏ kinh thành Paris hoa lệ và người thầy khả kính, Giáo sư Joliot-Curie cùng với Phòng thí nghiệm hạt nhân hiện đại nhất nhì thế giới để về nước An Nam đang nghèo khó, lạc hậu giúp ích cho quê hương, rồi chiến tranh liên miên để năm 1956 mới bắt đầu xây dựng được các phòng thí nghiệm đại học, chứ đừng nói tới nghiên cứu khoa học, rồi chỉ 9 năm sau lại bắt đầu một cuộc chiến mới mà lần này gian khổ cũng không kém, lại phải lên sơ tán trên Đại Từ, Thái Nguyên. Khi là hiệu trưởng Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, vì quá bận với các công việc hành chính, Người chỉ dành được thời gian để dịch sách, Người đã dịch từ tiếng Nga các cuốn „Cẩm nang Vật lý“ của Handel và „Con Mắt và Mặt Trời“ của Vavilov, với những kiến thức hết sức cơ bản mà bất cứ nhà vật lý nào cũng phải nắm vững.

Vì sao Người có sức lan tỏa như vậy, không chỉ với ngành vật lý mà với cả các ngành khác và nói chung là với tất cả mọi người? Chắc chắn đó là nhân cách nói chung chứ không chỉ là tài năng khoa học.

Cũng cho phép tôi nhân đây nói vài lời về bản thân mình. Tôi có may mắn sinh ra trong một gia đình nổi tiếng, lại là con trưởng. Ngay khi đang còn ẵm ngửa, vì lúc đó cha tôi làm Giám đốc Việt Nam học xá (địa điểm Đại học Bách khoa bây giờ), sau Cách mạng Tháng Tám, khi Bác Hồ tới thăm trường và với tác phong rất thực tế của Bác, đã đến thăm nhà riêng của Giám đốc và đã từng ẵm tôi trên tay mà bảo:“Đây là vị hiệu trưởng đại học tương lai của nước Việt Nam mới „. Đấy là may mắn đầu, còn may mắn thứ hai là làm vật lý từ đầu cho đến cuối đời.  Đầu đời là bắt đầu khởi nghiệp ở tuổi 18. Cũng một cái may mắn nữa, mà với các bạn trẻ bây giờ là bình thường, tôi được sang học ở Đức khi mới 12 tuổi. Không phải ai cũng có được cái may để biết đất nước và ngôn ngữ dân tộc có những nhà vật lý như Einstein, Schrödinger, Heisenberg…Thế nên 15 tuổi đi học nghề công nhân kỹ thuật, tôi được tham gia lắp máy Zeitlupe-zoom thời gian, tôi mới bắt đầu say mê vật lý. Năm 1962, khi18 tuổi tôi trở về nước làm việc ở Viện Đo lường ở tư cách nhân viên phòng thí nghiệm Quang học, tôi được đo trên những máy so giao thoa hay đo Abbe.  Hai năm sau tốt nghiệp phổ thông, tôi thi Đại học Tổng hợp để học vật lý. Thế nhưng về Viện Vật lý lại do tình cờ vì khi đó tôi đã cầm quyết định về Bộ Công An nhưng đến Cục Tổ chức họ lại không nhận bảo Phòng Tổ chức Đại học Tổng hợp nhầm, họ không hề xin tôi! Thế  nên tôi lại có cái may mắn về Viện Vật lý cuối 1968 khi nó chưa được thành lập, được cùng lớp đàn anh như các anh Hiệu, Đức, Chi, Nhượng, Hiển… xây dựng  nên Viện Vậy lý và ở chừng mực nào đó, cũng là ngành này.

Nhìn lại từ năm 1962, sau 53 năm, quá nửa thế kỷ gắn bó với ngành vật lý dưới cái bóng người cha và cũng là người thầy mình theo nghĩa rộng, tôi nghĩ mình có quá nhiều may mắn mà nếu có được phép làm lại cuộc đời, mình vẫn làm như vậy, vì một ngành như vật lý, quá ư là quan trọng, quá ư là hấp dẫn để theo đuổi nó suốt đời. Ngày nay sau khi đã về hưu trên chục năm, dù chỉ viết sách báo nhưng vì đây là ngành có sức lan tỏa hết sức lớn nên dù không trực tiếp liên quan tới vật lý, nhưng khi có thể vẫn hết sức giới thiệu và phổ biến ngành này.

Advertisements

About hoingovanchuong

Nhà văn
Bài này đã được đăng trong 03.Chuyện làng văn. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s