BÀI THƠ HÀNH CÔN SƠN CỦA CAO BÁ QUÁT

CaoBaQuat2NGUYỄN TRỌNG TẠO: Năm 1982 tôi từ Hà Nội chuyển về Quân Khu Bốn, đóng quân trên núi Đại Huệ. Những ngày cô đơn buồn bã, tôi nằm đọc cuốn “Thơ chữ Hán” của Cao Bá Quát. Lúc đầu chỉ đọc phần dịch thơ, thấy thú vị quá, tôi đọc phần phiên âm, rồi đọc phần dịch nghĩa. Nhận thấy nhiều câu thơ gốc chữ Hán được dịch nghĩa quá hay mà hình như phần dịch thơ của các tác giả không đạt được. Thế là tôi chọn và dịch lại một số bài ngắn mà mình thấy thật tâm đắc. Nhớ là đã dịch được khoảng 17 bài. Riêng bài “Hành Côn Sơn” tôi rất thích, nhưng vì quá dài, nên tôi chỉ dịch đoạn cuối, vì nó rất hợp với tâm trạng của tôi lúc đó. Nhiều cuộc uống rượu với bạn bè, thấy người ta nói lý với nhau nhiều quá, tôi thường đọc lên cái câu thơ tôi dịch để thể hiện quan niệm của mình: “Rót đi! Rót nữa! Xin đừng chối/ Cố tình hiểu nghĩa chỉ dại thôi” (bản gốc là “Chước chước quân mạc tì!… / Tức tâm liễu nghĩa chân như si” – Rót đi! Rót nữa đi! Xin đừng chối từ… / Tắt hết tâm cơ hiểu làu nghĩa lý thật chỉ là ngây dại). Sau này thấy nhiều người nhớ và hay nhắc lại câu “Cố tình hiểu nghĩa chỉ dại thôi”, tôi cảm động lắm. Nhưng bản thảo 17 bài thơ tôi dịch năm 1982 bị hỏng sau cơn lụt năm 1998 ở Huế, chỉ thỉnh thoảng tôi mới nhớ được đôi bài hay đôi câu mình đã dịch. Tiếc mụ người. Hôm nay đọc trên mạng thấy bài thơ “Hành Côn Sơn” với cả bài cảm nhận của một người say (theo tác giả kể lại), bỗng tôi nhớ lại được cả đoạn cuối bài mà mình đã dịch hồi trước, liền chép ra đây để đề dẫn cho bài thơ và bài viết của Tường Vũ Anh Thy mà tôi vừa thấy trên mạng:

Anh hùng muôn thuở còn đám bụi
Núi sông trăm trận chiếc thuyền câu
Rót đi! Rót nữa! Xin đừng chối
Vui buồn từng lúc khác nhau
Nơi người xưa ngắm, người nay xót
Cố tình hiểu nghĩa chỉ dại thôi
Ngẫm đạo làm chi đầu óc mỏi
Rót đi! Rót nữa! Xin đừng chối
Trên núi có tùng hãy tới chơi
Trèo lên đến đỉnh nhìn tám cõi
Chỉ thấy mây bay tận cuối trời
Chim xa về tổ ngủ
Lá vàng rụng tơi bời
Ở hay về đây, du tử ơi?

(Bản dịch thơ của Nguyễn Trọng Tạo)

Bài thơ chữ Hán và phiên âm:

與詩友番龍珍遊昆山因作昆山行云
Dữ thi hữu Phan Long Trân du Côn Sơn nhân tác Côn Sơn hành vân

春天何溟蒙
Xuân thiên hà minh mông!
春山連萬重
Xuân sơn liên vạn trùng!
遊子晚携瓠
Du tử vãn huề hồ,
豪興淩長空
Hào hứng lăng trường không.
客導昆山之上青且幽
Khách đạo Côn Sơn chi thượng thanh thả u,
與子相相訪故遊
Dữ tử tư­ơng tương phỏng cố du.
挎高渡險繞羅徑
Khóa cao độ hiểm nhiễu la kính,
遙支蔭蔭遙樹頭
Dao chỉ âm âm dao thụ đầu.
解衣分手散步行
Giải y phân thủ tản bộ hành,
松咷為我儲遠情
Tùng đào vị ngã trữ viễn tình.
三聲八景如追隨
Tam thanh bát cảnh như truy tùy,
洞新太白紛送迎
Đỗng Tân Thái Bạch phân tống nghinh.
仰面高青向太古
Ngư­ỡng diện cao thanh hướng thái cổ,
寒吵颯颯風泠泠
Hàn sao táp táp phong linh linh.
氐聲伏吟紫府章
Đê thanh phục ngâm Tử phủ chương,
番然飛髮豋山坰
Phiên nhiên phi phát đăng sơn quynh.
山坰上有范王臺
Sơn quynh thượng hữu Phạm vương đài,
古积倉倉曀綠苔
Cổ tích thương thương ế lục đài.
見說陳公舊遊赏
Kiến thuyết Trần Công cựu du thưởng,
至今山氣依然皆
Chí kim sơn khí y nhiên giai.
透玉橋邊野花小
Thấu Ngọc kiều biên dã hoa tiểu,
清虚洞里聲啼鳥
Thanh Hư­ động lý thanh đề điểu.
億齋賦在與谁倫
Ưc Trai phú tại dữ thùy luân?
天古高名付晴顥
Thiên cổ cao danh phó tình hiệu
維有陳朝禪者不坏身
Duy hữu trần triều thiền giả bất hoại thân
依依彗眼照今人
Y y tuệ nhãn chiếu kim nhân
浪傳世諦皆火宅
Lãng truyền thế đế giai hỏa trạch
更有何人探榻倫
Cánh hữu hà nhân thám tháp luân
行客不知遊子意
Hành khách bất tri du tử ý.
漫向山曾說禪里
Mạn h­ướng sơn tăng thuyết thiền lý,
樽前有酒君且飲
Tôn tiền hữu tửu quân thả ẩm.
為君一歌寒山寺
Vị quân nhất ca Hàn sơn tỷ(tự).
古拋城下六頭津
Cổ Phao thành hạ Lục Đầu tân,
請君北望看昔人
Thỉnh quân bắc vọng khan tích nhân.
百戰江山乘漁艇
Bách chiến giang sơn thặng ngư đĩnh.
萬古英雄一岫塵
Vạn cổ anh hùng nhất tụ trần.
酌酌君莫辭
Chước chước quân mạc tì! (từ)
人世悲歡不同時
Nhân thế bi hoan bất đồng thì.
今人遊赏後人悲
Kim nhân du thưởng hậu nhân bi,
息心了義真如癡
Tức tâm liễu nghĩa chân như si.
兀坐窮單兮以為
Ngột tọa cùng thiền hề dĩ vi?
酌酌君莫辭
Chước chước quân mạc tì! (từ)
山標復有高松三两支
Sơn tiêu phục hữu cao tùng tam lưỡng chi.
番陟渺八荒
Phan trắc diếu bát hoang,
明雲天外飛
Minh vân thiên ngoại phi.
征鳥相已還
Chinh điểu tương dữ hoàn,
洛葉紛紛而
Lạc diệp phân phân nhi.
遊人歸不歸
Du nhân quy bất quy?

*
Dịch nghĩa:
Hành Côn Sơn
(Làm khi lên chơi núi Côn Sơn với ông bạn thơ Phan Long Trân) 1

Trời xuân sao mà mịt mùng!
Núi xuân liên tiếp muôn trùng!
Khách chơi,buổi chiều xách bầu rượu,
Hào hứng vượt lên khoảng trời xa.
Khách nói: “Trên núi Côn Sơn vừa mát mẻ vừa tĩnh mịch
Chúng ta hãy cùng nhau lên thăm những dấu tích xưa”.
Trèo cao vượt hiểm vòng theo lối đi rậm rạp,
xa xa kìa những ngọn cây xanh um.
Phanh áo dang tay bước đi thong thả,
Tiếng thông reo làm khuây cả nỗi lòng xa xôi.
Tưởng như Tam Thanh, Bát cảnh cũng theo mình đến,2
Và các ông Đỗng Tân, Lý Bạch đang rộn rã đón đưa, 3
Ngẩng mặt lên cất cao tiếng gọi về thời thái cổ, 4
Chỉ thấy ngọn cây dào dạt gió thổi lạnh lùng.
Thấp giọng xuống ngâm bài Tử phủ,
Thoắt lại xõa tóc bước lên cửa chùa trên núi.
Trong chùa có đài Phạm vương, 5
Dấu cổ lờ mờ rêu phủ xanh biếc.
Nghe nói đây là nơi du ngoạn của Trần Công xưa, 6
Đến nay khí núi vẫn còn sầm uất.
Bên cầu Thấu Ngọc hoa dại lăn tăn, 7
Trong động Thanh Hư tiếng chim ríu rít. 8
Bài phú của Ưc Trai còn đó nhưng biết đem bàn nóicùng ai? 9
Danh cao tự ngàn xư­a phó mặc cho vòm trời xanh ngắt.淩
Chỉ có tấm thân không nát của vị sự đời Trần, 10
Đôi tuệ nhỡn vẫn sáng ngời nhìn người đương thế. 11
Còn đồn phiếm rằng Phật bảo cõi đời là cái nhà lửa, 12
Thì còn ai tìm hiểu đến pháp luân làm gì ! 13
Khách đi đường không hiểu ý người du tử,
Cứ đem mãi đạo lý nhà Phật ra mà nói với ông sư.
Trước mặt có vò rượu anh hãy uống đi,
Tôi sẽ vì anh mà hát bài “Hàn Sơn tử” 14
Dưới thành Cổ Phao trên sông Lục Đầu, 15
Anh hãy quay về phía bắc mà nhìn người thuở trước!
Trên khoảng non sông từng qua trăm trận đánh nay chỉ thấy một chiếc thuyền câu,
Bao khách anh hùng muôn thuở nay chỉ là một đám bụi!
Rót đi! rót nữa đi! xin đừng từ chối!
Cõi đời buồn hay vui từng lúc khác nhau.
Nơi người nay vui ngắm lại là nơi người sau ngậm ngùi.
Tắt hết tâm cơ hiểu làu nghĩa lý thật chỉ là ngây
Ngồi thừ ra để suy cùng đạo Phật hỏi để làm gì?
Rót đi! rót nữa đi! xin đừng từ chối!
Kia trên đỉnh núi còn có đôi ba cành tùng cao,
Trèo lên đến nơi nhìn ra tám cõi,
Chỉ thấy những đám mây lờ mờ bay tận ngoài trời,
Chim đi xa đã rủ nhau về,
Lá cây rụng đang bay phấp phới.
Khách du tử về hay không đây?

Ghi chú:
1-Phan Long Trân: không rõ là ai, chắc chỉ là người bạn thơ của Cao Bá Quát nhưng không có tiếng nên người sau quên lãng.
2-Tam thanh, bát cảnh:
-Tam thanh: ba cái động là Nhất Thanh, Nhị Thanh và Tam Thanh, ở phía bắc thị xã Lạng Sơn.
-Bát cảnh: tám cảnh đẹp quanh hồ Tây: (1).Bến trúc Nghi Tàm: bến tắm của chúa Trịnh Giang; (2).Rừng bàng Yên Thái: do Trịnh Giang bắt trồng; (3).Đàn thề Đồng Cổ: do vua Lý Thái Tông(1028-1054) xây để hàng năm quần thần đến thề tỏ lòng trung hiếu;(4).Phật say làng Thụy: pho tượng phật chống gậy, có dáng đi như người say rượu,ở một nhôi chùa Làng Thụy Chương ngày xưa; (5).Sâm cầm rợp bóng: nghề săn chim sâm cầm ở các làng quanh hồ Tây; (6).Đồng bông Nghi Tàm: làng Nghi Tàm xưa có nghề trồng hoa, có những vườn hoa rất đẹp; (7).Chợ đêm Khán Xuân: chúa Trịnh thường họp các cung nữ mở chợ đêm tại phường Khán Xuân để mua vui; (8).Tiếng đàn hành cung: sau khi họ Trịnh đổ, những cung nữ còn sót lại trong các hành cung, vẫn gảy những điệu đàn rất du dương.
3-Đỗng Tân và Lý Bạch:
-Đỗng Tân, tức là Lữ Đỗng Tân, còn gọi là Lữ Tổ, một trong các vị được gọi là “bát tiên”.
-Lý Bạch, tức là Lý Thái Bạch, còn gọi là Trích Tiên (ông tiên bị giáng xuống trần).
Đỗng Tân và Lý Bạch đều là những nhà thơ nổi tiếng đời Đường.
4-Gọi về thái cổ: ý nói cất tiếng ngâm, tưởng tượng về đời thái cổ.
5-Đài Phạn vương: Chùa thờ phật ở suờn núi Côn Sơn.
6-Trần Công: tức Trần Nguyên Đán, người tôn thất đời Trần, làm quan đến chức Nhập nội kiểm hiệu tư đồ, bình chương sự, quốc thượng hầu, lúc về già nghỉ ở Côn Sơn.
7-Cầu Thấu Ngọc: cây cầu bắc qua suối Côn Sơn, một hạ mục công trình của Thanh Hư động, do Trần Nguyên Đán xây đựng khi ông về hưu ẩn tại đây.
8-Thanh Hư: tên động, do vua Duệ Tông ngự bút viét tặng.
9-Ức Trai: tên hiệu của Nguyễn Trãi.
10-Thân không nát của vị sư đời Trần: chỉ sư Huyền Quang, có xá lỵ đặt trong Minh Đăng bảo tháp, trên sườn núi sau chùa Côn Sơn.
11-Tuệ nhỡn: tức mắt phật, có thể nhìn thấy được thực tướng của sự vật.
12-Nhà lửa: dịch chữ “hỏa trạch”, thuyết nhà Phật cho cõi đời phiền não như cái “nhà lửa”.
13-Pháp luân: bánh xe phép, đạo Phật nói: Phật chuyển vận “bánh xe phép” để cứu khắp mọi loài.
14-Hàn Sơn Tử, tên một cao tăng đời Đường (Trung Quốc), tu trong động Hàn Nham, trên núi Thiên Thai, không ai rõ tung tích. Lư Chỉ Dận làm quan ở Đan Khâu, nghe tiếng đến tìm, nhưng Hàn Sơn Tử không tiếp, lánh chạy vào trong động, cửa động tự nhiên đóng lại.
15-Thành Cổ Phao: tức Phả Lại ngày nay. Bến sông Lục Đầu trong câu thơ này chắc chỉ bến Phả Lại, câu thơ tiếp sau làm rõ ý này.

***

CAO BÁ QUÁT: CÔN SƠN HÀNH

TƯỜNG VŨ ANH THY

Côn Sơn hay Lô Sơn?*  Hay là ẩn ngữ của thi ca? Hay là quê hương của bến mộng?** Nếu Lô Sơn có sóng Triết Giang trong sương khói cuồn cuộn, thì Côn Sơn có sóng Lục Đầu mây khói mịt mù. Côn Sơn có suối tuôn róc rách như tiếng đàn cầm. Côn Sơn có đá biếc mưa rêu như tấm thảm tiên, có rừng sâu trúc mọc vi vút thông reo…*** Côn Sơn có chùa Tứ Phúc, có tượng Trúc Lâm, có cầu Thấu Ngọc, có động Thanh Hư …

Trong một bài thơ tựa đề “Loạn hậu đáo Côn Sơn cảm tác” (Sau thời loạn tới Côn Sơn cảm tác) của Nguyễn Trãi, có lời chú về Côn Sơn : ”Núi ở xã Chi Hãn, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, nơi Trần Nguyên Đán ở khi về hưu. Núi có động Thanh Hư, phía dưới có cầu Thấu Ngọc. Đời Trần sư Pháp Loa dựng am ở đó. Sư Huyền Quang cũng có tới.”

Trần Nguyên Đán là ngoại tổ của Nguyễn Trãi, làm quan đời Trần tới chức Nhập Nội Kiểm hiệu Tư Đồ, Bình Chương Sự, Quốc Thượng Hầu; khi già về Côn Sơn, lập am trong động Thanh Hư. Pháp Loa là vị sư được ký truyền y bát của Trúc Lâm Đại Sĩ, làm tổ thứ hai phái Trúc Lâm đời Trần. Huyền Quang là vị tổ thứ ba phái Trúc Lâm. Huyền Quang mới chính thật ở Côn Sơn nhiều hơn ở kinh đô. Ông mất tại Côn Sơn năm 1334.****

Nguyễn Trãi về trí sĩ ở Côn Sơn năm 1439, khi ông đã 60 tuổi. Về đây ông trùng tu chùa Tứ Phúc ( Thiên Tứ Phúc Tự ), sửa sang động Thanh Hư, lập thêm am sống đời đạo sĩ. Bài ca Côn Sơn của Nguyễn Trãi đã nói lên hết vẻ đẹp của Côn Sơn, và tâm tình hoài bão của thi sĩ.

Côn Sơn hay Lô Sơn ?

Khác với Tô Đông Pha, Cao Bá Quát đến Côn Sơn vào một ngày xuân rạng rỡ. Mây trắng bay suốt một giải trời rộng rãi. Núi xuân trải chập chùng hùng vĩ. Ông đến cùng người bạn thơ Phan Long Trân, cùng bầu rượu, và cùng…một tấm lòng nao nức nỗi thiên thu.

Núi Côn Sơn không cao lắm, nhưng thế núi chênh vêng như treo trên mây trời. Ta không có bức họa Côn Sơn, nhưng qua bài thơ đề bức họa Côn Sơn của Nguyễn Trãi, ta vẫn có thể vẽ lại bức họa Côn Sơn ,***** và trong tập Địa Dư Chí của Nguyễn Trãi, phần viết về Chí Linh, Hải Dương****** ta cũng có thể biết vùng núi Côn Sơn có nhiều hoa liễu và đá mây. Ở Côn Sơn nhìn ra bến Lục Đầu (sáu đầu sông cùng đổ nhịp vào một giòng sông xanh) nơi đó có đồn lũy, sau xây lại qui mô đặt tên là thành Cổ Phao. Những trận chiến lẫy lừng trên bến sông Lục Đầu đã đem thành Cổ Phao vào lịch sử.

Khi Cao Bá Quát đến Côn Sơn thì lịch sử đã là thảm rêu xanh bát ngát ủ kín đất trời Chí Linh. Đứng giữa núi rừng u tịch, ông cất tiếng hú. Tiếng hú của một người có buồng phổi còn đầy rẫy nội lực – có trái tim còn ăm ắp máu tươi. Tiếng hú hư hoang vang vọng trong trời đất, như một lời nhắn gọi thiên thu. Phải chăng tiếng hú của Cao Bá Quát cũng là tiếng hú của thiền sư Không Lộ******* làm lạnh bầu thái hư. Cao Bá Quát hú lên rồi cây lá xôn xao, mây trời vỗ cánh và đất đá bật tuôn sương khói. Tiếng hú ngân dài và ngân mãi, ngân suốt chiều dài của lịch sử Việt Nam bên bờ đông hải. Ông thấy ở Côn Sơn như chứa hết tam thanh bát cảnh******** như chứa hết những linh hồn Việt Nam bất tử, và còn chứa hết được linh hồn thế giới.

Thấp thoáng trong vô số những anh hùng dựng nước là những tấm y vàng của các thiền sư, và hình như chòm râu bạc của Lữ Đồng Tân, giải mũ xanh của Lý Thái Bạch cũng đang rộn ràng chào đón khách thi nhân. Cao Bá Quát hào hứng quá, bùi ngùi quá. Tiếng hú vừa cất lên thì trái tim vừa thổn thức. Ông khẽ ngâm một bài thơ cổ. Khẽ tu một hớp rượu nồng. Đôi chân khật khờ, tóc rối, ông dừng trước cửa chuà Tứ Phúc làm sâu trong núi. Vâng, ngôi chùa ấy đã cổ lắm rồi. Chùa được trùng tu nhiều lần nhưng vẫn giữ được mùi hương. Đài Phật Tổ rêu phủ lờ mờ. Trên màu rêu ấy ông tưởng như bóng dáng vị lão tướng đòi Trần với hào khí nước Nam còn mãi với núi trời. Và hình như có môt bông hoa cúc vừa nở bên cầu Thấu Ngọc ? Không, đấy chỉ là dư vang bài thơ của Huyền Quang.********* Bây giờ bên cầu Thấu Ngọc chỉ mọc toàn một loài hoa cỏ lăn tăn. Và trên động Thanh Hư chim kêu ríu rít như nghìn hoa cỏ vẫn chan hòa. Có ai nghe tiếng gọi đò ? Có ai đáp tiếng rao của người bán chiếu? Có ai thiếu chút niềm rộng rãi của chiêm bao? Phải chăng bài thơ của Nguyễn Trãi còn lồng lộng trên núi cao, và mộng công hầu, bầu khanh tướng, cùng tấm lòng vằng vặc của thi gia đã trôi vào mây trắng?

Ôi ba vạn sáu ngàn ngày là mấy
Cuộc ta bà tam muội thấy mà thương
Chỉ còn đây thân tứ đại tha hương

Vâng, cái thân tứ đại ấy bỗng còn mãi nơi Trúc Lâm, nơi Pháp Loa, nơi Huyền Quang…với đôi mắt muôn đời mở nhìn đoàn dương thế. Nếu căn nhà lửa trần gian thiêu đốt được hùm sói rắn rết bọ hung, thì đôi mắt kia mới êm đềm khép lại. Hỡi ơi ! Trước cửa chùa cứ toan thuyết pháp ? Trước lòng ta toan đảo chính lòng ai ? Sao không thấy trước mặt ta là một hồ lô rượu. Kìa hãy uống đi! Cánh cửa động Hàn Nham đóng chặt rồi *********

Ôi trên bến Lục Đầu thành Cổ Phao còn đó. Sóng lớp phế hưng vẫn vỗ mãi vào bờ. Bao chiến thuyền lung lay trên sông Lục Đầu, nay chỉ còn lơ lửng một mảng câu. Bao anh hùng thưở trước nay chỉ còn là đám bụi hồng. Hãy rót đi ! Hãy rót đi đừng ngại.

Cuộc buồn vui như giòng nước luân lưu, mỗi lúc mỗi khác. Nơi ta đang ngồi đây vui thú uống rượu có thể cũng là nơi người sau đến ngậm ngùi! Cuộc đời như một giòng sông tự vỗ vào lòng mình, không phải để thấy mình bị giam hãm mà để ý thức rằng mình đang trôi vô tận về biển khơi.********** Ngày xưa Khổng Tử  nhìn thấy giòng nước trôi mãi ấy đã nghĩ gì? Có ai tra hỏi mãi về một giòng sông? Hỡi ơi! Lấy tâm trói tâm ngồi đấu lý mãi với sư chùa cổ để làm gì? Này! Rót nữa đi! Tiêu khiển thêm vài chung lếu láo! Kìa! Trên đỉnh núi Côn Sơn tùng cao vẫn mọc ngạo nghễ! Ta hãy trèo lên đó ngó ra tám phương cho rõ mặt tám vạn bốn nghìn thế giới. Thì ra khắp thế giới là một màu mây trắng. Mây trắng muôn đời bay mãi vào thiên thu. Đất bỗng lắng yên, hồn bỗng chùng. Chim lữ thứ rủ nhau về lũ lượt trong tà huy phất phới lá vàng bay. Hình như gió xuân cũng là gió heo may thì phải? Mà sao heo hút quá! Bâng khuâng quá! Ta đã về chưa? Ta sắp về chưa? Ta sẽ về đâu ?

Dịch bài thơ CÔN SƠN HÀNH

Trời xuân mộng mênh mông mây trắng
Núi xuân say xa vắng chập chùng
Lòng xuân phơi phới một vùng
Chiều xuân quẩy rượu ta cùng hát vang
Núi Côn Sơn xiết bao thanh tú
Bác với tôi thăm dấu tích xưa
Trèo cao vượt đá chui rừng
Cây xanh lá thắm vui mừng thấy nhau
Phanh ngực áo tà tà đi tới
Gió thông reo thơ thới tình ca
Tam Thanh Bát Cảnh theo ta
Đổng Tân Thái Bạch những là đón đưa
Cất tiếng hú hư hoang lòng cõi
Cây ngàn năm mưa gió dạt dào
Nhẹ ngâm thơ nhẹ nghẹn ngào
Tóc bay chân bước lên chào chùa trong
Chùa trên núi trên thờ Phật Tổ
Dấu rêu phong đài cổ lờ mờ
Nghe đồn một thưở đợi chờ
Trần Nguyên Đán với mây trời vẫn xanh
Cầu Thấu Ngọc hoa tung tăng mọc
Động Thanh Hư chim ríu rít ca
Bài thơ Nguyễn Trãi chan hòa
Ngàn xưa lòng đã gửi vào trời mây
Thân không nát Trúc Lâm tam tổ
Mắt nghìn sau nhìn bổ lòng ta
Lòng ta trong cõi ta bà
Dám thưa, thưa dám ta bà dám thưa
Chưa hiểu hết lòng ta rốt ráo
Còn đem thiền đấu láo với sư
Rượu đây hãy uống ngất ngư
Ta say ta khẽ ậm ừ sắc không
Thành Cổ Phao dưới sông bến Lục
Thử nhìn xem vinh nhục là đâu
Mấy phen chiến sử anh hào
Rồi ra nắm đất mái chèo lửng lơ
Rót nữa đi xin đừng từ chối
Cuộc buồn vui hồ mỗi giống nhau
Trước vui sau lại buồn đau
Cởi lòng sau trước cưỡi trâu xuống làng
Chuyện thiền luận ngồi lâu dấm dớ
Rót nữa đi xin chớ ngại say
Xem cho rõ mặt đông tây
Tùng cao đỉnh núi ngất ngây mấy chòm
Mây lơ lửng ngoài trời bay mãi
Chim đường xa tầm tã trở về
Lá rơi lảo đảo lá hề !
Dùng dằng nửa ở nửa về …về đâu ?

Tường vũ Anh Thy 1982 (trích trong Cao Bá Quát Giữa Hồn Thiêng Sông Núi)

CHÚ THÍCH: * Xem Tuệ Sĩ: Tô Đông Pha, Những Phương Trời Viễn Mộng ( Ca Dao,Sài Gòn 1973)

**Nguyễn Phi Khanh trong bài Du Côn Sơn có câu: Bách niên phù thế nhân giai mộng (trăm năm cõi thế là cõi mộng) ***Viết theo bài Côn Sơn của Nguyễn Trãi(Hoàng Khôi – Ức Trai tập) ****Xem thêm Nguyễn Lang: Việt Nam Phật Giáo Sử Luận,Lá Bối – Paris 1977. *****Úc Trai tập. ******Thiền sư Không Lộ đời Lý có câu: Hữu thời trực thượng cô phong đỉnh, Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư (Một thưở lên cao đầu gió núi,Hú dài một tiếng lạnh hư không) *******Tam Thanh: Ba cảnh đẹp nổi tiếng ở Lạng Sơn, Bắc Việt là ba động Nhất Thanh, Nhị Thanh, Tam Thanh. Bát Cảnh là tám cảnh đẹp quanh hồ Tây Thăng Long (Hà Nội) ******* Sư Huyền Quang có bài thơ Hoa Cúc:

Người ở trên lầu, hoa dưới sân
Vô ưu ngồi ngắm khói trầm xông
Hồn nhiên người với hoa vô biệt
Một đóa hoa vừa mới nở tung

            (Nguyễn Lang dịch – Việt Nam Phật Giao Sử Luận)

********Hàn Sơn Tử là một cao tăng đời Đường, cùng với Thập Đắc, là môn đệ của Phong Vân Đại Sư (Thiên Thai Tông). Lư Khâu Dẫn làm thái thú Thái Châu,biết tiếng đến tìm, nhưng hai vị đều bỏ chạy. Sau Lư đi du ngoạn tình cờ thấy Hàn Sơn tựa mình bên hang động. Lư tiến lên yết kiến thì Hàn Sơn chui vào hang. Đá tự nhiên khép lại. Lư có công sưu tầm những bài thơ và kệ của Hàn Sơn, được hơn 300 bài, đóng thành Hàn Sơn Tự Tập, do Lư viết tựa. *********Ý thơ Rabindanath Tagore – Sadhana

Lời Thêm: Hồi đó (1982) tôi vừa uống rượu vừa viết Cao Bá Quát. Suốt đêm, cứ Cao bảo rót là tôi rót liền. Hôm sau đưa Đào Mộng Nam xem. Anh vốn rất cẩn thận,điềm đạm, và nghiêm nghị; đọc bài thơ này anh phản đối cực kỳ. Khi tranh luận anh cũng sôi nổi. Anh không thể chấp nhận những câu như :phanh ngực áo tà tà đi tới.Nhưng tôi bảo tôi đâu có dịch sai. Cái hứng cả đêm, tốn bao nhiêu rượu mới có bài thơ. Bây giờ nghĩ lại, quả thật tôi không “đứng đắn’ với văn học ! Nhưng cha mẹ sinh con, trời sanh tánh biết làm thế nào được. Chúng tôi bèn giận nhau đâu những… nửa giờ! – 25/1/2011

Advertisements

About hoingovanchuong

Nhà văn
Bài này đã được đăng trong 03.Chuyện làng văn, 06.Thơ và được gắn thẻ , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s