HÌNH ẢNH NGƯỜI LÍNH BIỂN QUA TRƯỜNG CA “BIỂN MẶN” CỦA  NGUYỄN TRỌNG TẠO

Tác giả Tuệ Mỹ

Tác giả Tuệ Mỹ

TUỆ MỸ

Nhặt lên hạt muối thưa rằng
Một phần biển mặn. Mấy phần máu xương…

Đó là hai câu thơ mở đầu trường ca “Biển mặn” của Nguyễn Trọng Tạo xuất bản năm 2015. Mặn là thuộc tính của biển nhưng thuộc tính đó chỉ có một phần nhỏ nhoi. Còn lại vị mặn của biển là do “mấy phần máu xương” của chủ nhân biển đảo. Biển Việt Nam là của người Việt Nam. Để bảo vệ biển đảo của Tổ quốc mình không lọt vào tay giặc,con dân Việt phải đổ bao xương máu. Mà đứng đầu mũi nhọn cuộc chiến đấu bảo vệ chủ quyền biển đảo là người lính biển. Do vậy, hình ảnh người lính biển là hình ảnh trung tâm của trường ca dài gồm năm chương và phần vỹ thanh kết thúc. 

Chiến tranh đã đi qua. Cuộc kháng chiến chống Mỹ đã kết thúc thắng lợi. Những tưởng dải giang sơn gấm vóc Việt Nam không còn bị ngoại bang đe dọa. Nhưng không,quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của ta lại đứng trước nguy cơ bị Trung Quốc thôn tính. Thế nên người lính lại phải lên đường để bảo vệ chủ quyền lãnh hải của ta. Khúc quân hành lại phải tiếp nối:

Cha đã lính bây giờ con lại lính
Những thế hệ nối nhau đi giữ nước non nhà
Xưa cha Trường Sơn Rừng
Nay con Trường Sơn Biển
Những hòn đảo dựng vòng cung phòng tuyến
Dựng tin yêu từ phía mặt trời lên.

Nói đến Trường Sơn là nói đến thế hệ Việt Nam anh hùng thời chống Mỹ. Đó là những người lính lái xe Trường sơn,những cô thanh niên xung phong mở đường. Đó là những con người không tiếc máu xương vì lý tưởng giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Vậy nên Trường Sơn huyền thoại không còn là địa danh mà đó là từ ngữ biểu trưng cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Thế hệ anh hùng thời chống Mỹ “Xưa cha Trường Sơn Rừng”, nay nối tiếp dòng máu anh hùng của cha, con đánh đổ giấc mộng cướp biển đảo Việt Nam của bọn giặc Trung quốc “Nay con Trường Sơn Biển”. “Trường Sơn Biển” là một hình ảnh thơ đầy sáng tạo để khẳng định vẻ đẹp của người lính biển hôm nay thừa kế dòng máu anh hùng của cha ông trong cuộc chiến đấu chống quân xâm lược Trung quốc để bảo vệ chủ quyền lãnh hải Việt Nam.

Đây là hình ảnh những “Trường Sơn Biển” ra quân:

Tin dội về: Biển đảo bị xâm lăng
Thề giữ biển,giữ yên từng tấc sóng
Những người lính hiên ngang cùng chiến hạm
Những con tàu thẳng hướng Hoàng Sa

Đoạn thơ đã tái hiện một khí thế tiến công bừng bừng. Những chiến hạm cứ “thẳng hướng” có quân thù mà đến. Hình ảnh người lính “hiên ngang” ngạo nghễ khi xung trận.Những con tàu chiến mang tên những anh hùng dân tộc “Lý Thường Kiệt/Trần Bình Trọng/Trần Khánh Dư/Nhật Tảo”. Có phải người lính biển “xông pha” hôm nay mang khí thế của lịch sử 4000 năm đánh giặc hào hùng của dân tộc? Lời thề “giữ biển, giữ yên từng tấc sóng” có âm vang lời thề Sát Thát của hào khí Đông A?

Đẹp hơn cả là hình ảnh người lính biển trực diện chiến đấu với kẻ thù đến giọt máu cuối cùng trên biển khơi:

Khi con tàu đang chìm dần xuống biển
Trung tá Trần Đức Thông vẫn đứng trên boong
Anh đã chết nhưng anh không gục xuống
Như Từ Hải ngày xưa uất nghẹn trước quân thù

Chết đứng, một tư thế chết lạ. Nhà thơ đã ví cái chết của anh “Như Từ Hải ngày xưa uất nghẹn trước quân thù”. Giống Từ Hải ở chỗ chết đứng nhưng không giống ở chỗ “uất nghẹn”. Từ Hải “uất nghẹn” vì bị Hồ Tôn Hiến lừa ra hàng rồi giết chết. Còn người lính cách mạng “uất nghẹn” vì không đẩy lùi được quân địch. Cái chết đứng đầy uất nghẹn của Từ Hải là cái giá phải trả cho kẻ mắc mưu đầu hàng địch. Còn Trung tá Trần Đức Thông chết đứng vì không chịu khuất phục trước kẻ thù. Không khuất phục ngay khi đã chết. Cái chết đứng của anh là cái chết đẹp. Nó giống với cái chết đứng của anh giải phóng quân năm nào trên chiến hào chống Mỹ: “Và Anh chết trong khi đang đứng bắn/ Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng” (Lê Anh Xuân). Lê Anh Xuân đã tạc nên tượng đài người lính cách mạng chết đứng trong kháng chiến chống Mỹ còn ở cuộc chiến Biển Đông chống Trung quốc, Nguyễn Trọng Tạo đã tạc tượng đài người lính biển “Anh đứng trên boong tàu như tượng đá”. Tượng đài người lính cách mạng ở thời kỳ nào cũng lấp lánh ánh hào quang của chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

Hình ảnh người lính biển bảo vệ cờ Tổ quốc trên bờ biển đảo được nhà thơ tái hiện cũng đã gây xúc động khôn cùng trong lòng người đọc. Kẻ thù với âm mưu cướp biển của ta “Chúng bắt ta hạ xuống cây cờ đỏ”. Nhưng không đời nào:

-Một vòng tròn lính biển kết thành hoa
Bao bọc cờ Tổ quốc
-Những người lính sát vào nhau một vòng tròn khép kín
Mặc pháo 100 li từ biển bắn vào

“Nguyễn Văn Phương ôm cột cờ giữ chặt” và rồi “Đạn bắn vào đầu Phương, anh ngã xuống”. Nhưng lập tức “Nguyễn Văn Lanh thay Phương làm nhiệm vụ/Giữ lá cờ giữa “vòng tròn bất tử” dù “lưỡi lê quỹ dữ đã đâm anh”. Cứ vậy người này có ngã xuống thì người khác lập tức thay thế giữ cờ. Các anh có “ngã” nhưng nhất định cây cờ phải “đứng”, lá cờ phải “tung bay”. Vì đây là “Lá cờ xương máu biết bao đời” – “phải giữ cho bằng được”. Cuộc chiến đấu giữ cờ Tổ quốc rất đỗi bi hùng. Dõi theo “cuộc chiến tay không giành giật” bảo vệ cờ Tổ quốc của người lính biển, lòng người đọc thắt thỏm từng cơn. Nhói đau trước họng súng, lưỡi lê của loài quỷ dữ đã “nổ”, đã “đâm” các anh, nhưng cũng rất đỗi tự hào khâm phục trước tinh thần chiến đấu ngoan cường của họ. Tưởng chừng như còn vang vọng đâu đây tiếng hô của anh Nguyễn Văn Phương: “Hãy để máu tô cờ”. Tiếng hô của anh hay tiếng vọng về của Bác Hồ “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước…”. Màu cờ Tổ quốc đã thắm máu cha ông bao đời giờ càng thắm hơn bởi máu các anh đã “tô cờ”. Nhìn lá cờ Tổ quốc tung bay giữa trời lộng gió ta như thấy hiển hiện bóng hình các anh bởi:

Các anh hóa thành sao
Các anh hóa thành cờ
Mỗi người lính- một lá cờ Tổ quốc

Lá cờ là hồn thiêng sông núi. Còn “sao” là hình ảnh vũ trụ vĩnh hằng lung linh cao đẹp. Hồn các anh đã nhập vào hồn nước linh thiêng, bất tử.

Người lính biển đảo không chỉ từng ngày từng giờ đối mặt với hỏa lực địch mà còn thường xuyên chống chọi với bão tố:

– Cơn bão điên cuồng gió giật cấp 12
– Cơn bão biển từ phương đông đang đến
Sóng đã chồm qua đầu hòn Đá Lớn
Biển ngả nghiêng chơi trò cập kênh
Trước mặt chúng tôi tối sầm cơn gió đen

Bão tố phong ba không chỉ phá hoại nhà cửa, hoa màu trên đảo mà còn đe dọa đến các phương tiện chiến đấu:

-Bạt che pháo trong gió lùa tơi tả
-Dây điện thoại đứt tung như chỉ rối

Thế nhưng người lính đã bảo vệ đến cùng vũ khí chiến đấu:

Những người lính cởi áo ra che pháo
Những người lính ngã nhoài trong gió bão
Lại đứng lên.Gió lại giật ngã nhoài
Không thể đi thì bám đất trườn đi
Dây điện nối men theo triền đá xám

Đoạn thơ gợi nhớ đến “Những đồng chí chèn lưng cứu pháo/Nát thân nhắm mắt còn ôm” (Tố Hữu) trong kháng Pháp… Xả thân cứu pháo để phục vụ chiến đấu, hành động của người lính thật cao đẹp! Chỉ vì các anh tâm niệm một điều:

Không thể nào mất đảo đất liền ơi
Trong gió bão chúng tôi nghe người gọi
Chúng tôi nghe đất liền vang dội
Lời đất liền từ ngực chúng tôi đây…

Phải, “không thể nào mất đảo”, “phải giữ cho bằng được” lá cờ Tổ quốc, đó là lời tuyên thệ của người lính biển đối với Tổ quốc, nhân dân. Chính vì lời thề khắc cốt ghi xương đó mà các anh sẵn sàng hy sinh tất cả. Không chỉ hy sinh xương máu bản thân mà còn hy sinh cả mái ấm gia đình. Có ai mà không có gia đình cha mẹ, vợ con, người yêu dấu… Nhưng vì nghe lời Tổ quốc gọi, người lính sẵn sàng gác lại bên lòng những tình cảm riêng tư ấy để lên đường canh giữ biển đảo quê hương. Đoạn thơ dài kể về chuyện trung tá Trần Đức Trung “chìm dần xuống biển” mà vẫn còn nợ con gái lời nhắc nhở “Nhớ viết thư cho mẹ kẻo mẹ mong” và “Anh không bao giờ nhận được lá thư con” để được đọc “những dòng chữ nhớ nhung” cùng lời động viên chiến đấu của con anh đã làm ta rơi nước mắt. Thế mới biết người lính hy sinh rất lớn cho từng giọt nước biển quê hương. Thế mới biết biển “mặn” không chỉ vì “máu” của người lính mà còn bởi “nước mắt” của người thân họ.

Hình ảnh người lính xuất hiện trong mỗi tình huống khác nhau khi làm cột mốc sống, khi trực diện chiến đấu với quân thù hoặc khi chống chọi cùng bão tố đều sáng lên phẩm chất anh hùng:yêu nước, kiên cường, bất khuất trước kẻ thù, sẵn sàng xả thân vì mỗi con sóng thiêng của Tổ quốc. Các anh mang khí phách của cha ông đi vào cuộc chiến đấu hôm nay. “Nguyễn Trọng Tạo đã dựa vào bộ xương sử sách để tái tạo lại hình ảnh của Biển Đông hôm nay”,”Trường ca “Biển mặn” thoát ra được chiếc vỏ hoành tráng giả tạo”( Mặc Lâm) vậy nên hình ảnh người lính biển dưới ngòi bút của Nguyễn Trọng Tạo không mang dáng dấp những hình ảnh trượng phu, phi thường kiểu văn học cổ, mà rất chân thực, bình dị, gần gũi nhưng vẫn sáng ngời cốt cách của người anh hùng.

Viết trường ca “Biển mặn”, tác giả sử dụng nhiều phương thức biểu đạt: tự sự, miêu tả, chính luận… nhưng bao trùm bản trường ca vẫn là yếu tố trữ tình. Vì đây là thơ. Mà thơ là tiếng nói của con tim thi sĩ. Dừng lại ở mỗi dòng thơ viết về người lính, người đọc như thấy được nhịp rung của trái tim nhà thơ. Chắc hẳn nhà thơ đã lặng người đi khi viết về những hy sinh lớn lao của người lính. Nhà thơ cũng là người lính. Còn gì thật hơn, cảm động hơn khi viết về đồng đội của mình. Cái tài của nhà thơ không phải là kể, tả giỏi mà là đã truyền cảm xúc từ trái tim mình đến trái tim người đọc. Thật sự khi đọc trường ca này, nhiều người không khỏi rưng rưng. Và có ai mà không suy tư về dòng thơ sâu lắng:

Biển lắng máu cha ông biển xanh biêng biếc

Biển vốn xanh nhưng được “xanh biêng biếc” thì phải “lắng máu cha ông”. Câu thơ làm nhức nhối lòng người về cái giá đắt phải trả cho từng con sóng quê hương. Lại càng thấm thía hơn cái vị mặn của biển:

Và em hiểu: biển nơi này mặn lắm
Những cuộc đời máu thắm đã thành hoa

Vâng, ‘”em hiểu”, chúng ta hiểu biển “mặn lắm”. Biển mặn là do “máu cha ông” lắng đọng, là bởi nước mắt của bao người khóc cho người thân của họ đã hy sinh trong cuộc giành giật với kẻ thù từng tấc sóng quê hương. Chúng ta hiểu cây đời nở hoa là nhờ “máu” của biết bao con dân Việt đã sẵn sàng tưới xuống. Cuộc sống yên bình, hạnh phúc ta đang hưởng là do những người đứng mũi chịu sào ở đầu sóng ngọn gió không tiếc máu xương. Vậy nên, bên cạnh cảm xúc tự hào, khâm phục, yêu thương, lòng ta dào lên một cảm xúc hàm ơn khó tả về người lính biển. Không hàm ơn sao được khi ta nhận của đời biết bao ơn huệ mà đặc biệt ơn huệ được tạo nên từ máu? “Uống nước nhớ nguồn”, chính là thái độ sống đúng đạo lý, mà đã là người thì ai cũng phải nhận thức. Nếu người lính đảo “Chúng tôi nghe từ đất liền vang dội/ Lời đất liền từ ngực chúng tôi đây”, thì người đất liền cũng hướng trái tim mình về biển đảo xa xôi để hòa cùng hơi thở nhịp tim với người lính biển trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh hải của ta.

“Trường ca “Biển mặn” là “một tác phẩm kịp thời vẽ nên diện mạo Biển Đông bằng cảm xúc của một người lính. Người lính ấy tuy không còn mang súng nhưng “ngòi bút sắc cạnh vẫn làm cho lòng người dào dạt niềm yêu từng giọt nước biển của quê hương” (Mặc Lâm). Đúng thế, yêu từng giọt nước biển quê hương lòng ta càng yêu quý, tự hào và biết ơn hơn những “Trường Sơn Biển”.

Quy Nhơn, 08/01/2016

About hoingovanchuong

Nhà văn
Bài này đã được đăng trong 05.Phê bình-lý luận, 16.Bài báo và được gắn thẻ , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s