NHÀ THƠ VÕ VĂN TRỰC – MỘT NGƯỜI QUÊ GIỮA PHỐ

Nhà thơ VÕ VĂN TRỰC - Ảnh: Nguyễn Đình Toán

Nhà thơ VÕ VĂN TRỰC – Ảnh: Nguyễn Đình Toán

LÊ HUY MẬU

Tôi gặp nhà thơ Võ Văn Trực lần đầu ở tòa soạn báo Văn nghệ. Trông anh mộc mạc thô sơ giống một nông dân. Vừa xưng tên với anh xong, được anh niềm nở đón tiếp tôi mừng lắm. Nhưng vừa đó, đã thấy anh xa vắng. Như thể là anh đang mải nghĩ đi đâu. Như thể là anh quên mất có tôi đang ở ngay trước mặt. Tôi nhút nhát chẳng dám hỏi chuyện. Còn anh, sau phút vồn vã, niềm nở ban đầu ấy là coi như xong rồi đó. Tôi xin phép anh, cáo lui. Bỗng như chợt nhớ ra, anh hỏi: Mậu có bài gì gửi báo Văn nghệ không? Tôi lục túi, đưa anh mấy bài thơ đã chuẩn bị sẵn. Anh đọc lướt qua, chọn lấy một bài. Giả lại những bài còn lại. Chẳng nói sao, anh cầm bài thơ đi vào phòng biên tập. Tưởng anh vào một chút rồi quay ra, không ngờ tôi ngồi chờ mãi không thấy, nên tôi ra về mà không có lời chào tạm biệt anh. Sau này, tôi còn gặp lại một lần tương tự như thế tại tiền sảnh hội trường Quốc hội hôm Đại hội nhà văn. Gặp anh vẫn vồn vã niềm nở lắm. Xong, anh lại mơ màng im lặng. Xong, lại đi đâu đó như là sẽ trở lại ngay. Nhưng là đi luôn.

Nhà văn mỗi người một tính cách. Có nhà văn ồn ào. Có nhà văn lặng lẽ. Có nhà văn gặp là thao thao đủ thứ chuyện. Có nhà văn ít lời và lơ đãng như anh Võ Văn Trực. Còn nhớ, bài thơ đầu tiên in trên báo Văn nghệ Trung ương của tôi là bài “Cửa biển- Vầng trăng”- Bài mà anh Võ Văn Trực chọn và đưa đi in ngay khi tôi còn ngồi trong tòa soạn của báo.

Anh Trực được những người viết văn trẻ quý mến. Và anh cũng quý mến những người viết trẻ. Nhà thơ Trần Quang Qúy, cố nhà thơ Trần Quốc Thực học trường viết văn Nguyễn Du xong chưa có việc, anh Trực giới thiệu với tôi và nhờ tôi xin việc trong Vũng Tàu cho hai vị này. Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, nhà thơ Ngô Xuân Hội cũng kể, lần đầu gặp anh Trực, được anh Trực niềm nở tiếp và in cho bài thơ đầu tiên trên báo Văn nghệ giống y như trường hợp của tôi.

Ngày anh Trực đi công tác vào Vũng Tàu, anh có đến thăm nhà tôi. Bấy giờ tôi còn ở trong khu tập thể của Tỉnh ủy. Khu tập thể là khu nhà gia binh của quân đội Việt Nam Cộng hòa cũ. Nhà khung thép, lợp phi-bro xi măng, mỗi căn chỉ rộng hai phẩy bảy mét và dài chín mét. Tôi ngăn ra nửa ngủ, nửa tiếp khách. Tôi hết sức lúng túng về sự ăn ở khốn khổ của mình trước một nhà văn tên tuổi từ Hà Nội vào ghé thăm nhà. Nhưng anh Trực thông cảm và lần này thì anh  ngồi nói chuyện khá lâu, ân cần hỏi han quan tâm như đã là anh em với nhau từ lâu lắm. Vợ tôi  mừng hú. Nàng cứ xắm nắm tính mời anh ở lại ăn cơm với gia đình, nhưng anh Trực từ chối vì anh còn bận đi làm việc cùng với đoàn. Cũng trong lần gặp đó, vợ tôi có kể cho anh Trực nghe, rằng bố vợ tôi vẫn thường khoe , nhà thơ Võ Văn Trực là bạn học trường cấp ba Huỳnh Thúc Kháng với ông niên khóa 1956- 1958. Chuyện này khiến anh Trực bất ngờ và vui lắm. Bấy giờ bố vợ tôi đã mất. Nhìn tấm ảnh trên bàn thờ, anh hỏi: Công ( tên bố vợ tôi) đây phải không? Mình chỉ nhớ mang máng! Rồi anh bắc ghế thắp hương cho bố vợ tôi. Anh bảo, sắp tới, anh có làm cuốn kỷ yếu thế hệ học sinh cấp ba Huỳnh Thúc Kháng 1956- 1958, anh cho địa chỉ để vợ chồng tôi gửi thông tin của cha cho anh. Từ bữa đó về sau, anh Trực coi vợ chồng tôi thân thiết như là những đứa con của một người bạn học cũ.

Tôi được tin anh Trực bị tai biến nặng. Cũng phải một thời gian sau, khi có dịp trở lại Hà Nội tôi mới nhờ nhà thơ Nguyễn Tùng Linh chở xuống nhà thăm anh. Căn nhà cấp bốn xưa đã được nâng cấp thành căn nhà ba tầng lầu khang trang. Nguyễn Tùng Linh kể, anh Trực có đất và căn nhà này là nhờ một người bạn học cũ làm tổng hay phó tổng gì đó của công ty xây dựng Sông Đà giúp cho. Chứ anh Trực lấy đâu ra tiền. Sau ngày vợ mất, anh Trực không có thêm “tập mới” như các nhà văn khác. Căn nhà có vẻ vắng lặng. Anh vốn đã ít nói, giờ gần như là im lặng hoàn toàn. Nguyễn Tùng Linh đỡ lời anh kể chuyện của anh cho tôi nghe. Thỉnh thoảng lão lại pha thêm một cầu đùa tếu cho câu chuyện bớt phần ảm đạm. Nhìn sách vở ngổn ngang trên bàn ở tầng hai, có vẻ như anh Trực vẫn đang tra cứu và làm việc hàng ngày.

Nhà thơ Võ Văn Trực, theo như một số nhà văn gần gũi, nhận xét về anh, rằng, anh là một người quê, quê từ thơ đến văn, đến khảo cứu, đến nét sinh hoạt hàng ngày, đến cách giao tiếp văn hóa giữa đô thị. Anh say mê công việc, say mê sáng tạo với mỗi một lý tưởng và tình yêu duy nhất là quê hương. Nhiều, nhưng hãy còn chưa hết, những cuốn sách, những sưu tập về làng quê Xứ Nghệ, về Phủ Diễn Châu, về làng Hậu Luật của anh. Tôi có nghe ồn ào về cuốn tiểu thuyết “Chuyện làng ngày ấy” của anh nhưng chính mình thì lại chưa được đọc. Nghe nói cuốn sách viết năm 1990 này cũng gây cho anh nhiều phiền toái và nó bị tịch thu ngay sau khi in . Mãi tới năm 2005 cuốn sách mới được tái bản. Nhà văn Thụy Khuê ở Pháp có làm cuộc phỏng vấn anh về hai cuốn sách này. “Chuyện làng ngày ấy” là những ám ảnh tuổi thơ nơi làng quê Hậu Luật sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, năm 1945. Anh kể: Hồi Cách mạng tháng Tám, anh khi ấy mới 9 tuổi. Do ấu trĩ, những người cầm quyền lúc bấy giờ cho  phá phách tất cả đình chùa, miếu mạo, đền thờ, nghĩa trang, chặt hết những  cây cổ thụ đã bốn, năm trăm năm tuổi. Đến năm 1952, có cuộc  “đấu tranh chính trị”  quyết liệt, làng xóm đấu tố lẫn nhau, gây nên bao cảnh tượng đau lòng. Có cái gì nó thôi thúc anh phải viết lại những chuyện ấy. Anh bảo, làng anh xưa cũng đẹp như nhiều làng khác, nhưng sau Cách mạng tháng Tám nó bị tàn phá đau đớn vô cùng. Đến nỗi mỗi khi anh đi xa trở về, đến ngã ba Diễn Châu, cách làng 6 cây số, anh không dám về ban ngày nữa mà phải về đêm, anh bảo, đi ban ngày sợ nhìn thấy cảnh làng xóm tiêu điều đau xót lắm! Còn cuốn sách “ Vết sẹo và cái đầu hói” cũng gây xôn xao dư luận. Tôi không có cuốn sách, nhưng nhà thơ Ngô Xuân Hội có gửi mail cuốn tiểu thuyết này cho tôi đọc. Tôi thấy cuốn tiểu thuyết này về mặt văn chương thì cũng thường thôi. Do các nhân vật trong cuốn tiểu thuyết này thấp thoáng bóng một vài nhân vật gần gũi trong đời thực mà gây nên ồn ào. Ý định cuốn sách thì khá rõ, nó phản ánh một lớp trí thức thực dụng, xu thời, khôn lanh và giả dối nhưng cách viết thì chưa “siêu” lắm. Anh tâm sự: “Mình làm tại một cơ quan văn hóa thấy nó cũng có rất nhiều sộc sệch, vừa là người trong cuộc, vừa chứng kiến sự xuống cấp ghê gớm của một cơ quan văn hóa. Những giá trị truyền thống bị xuống cấp, trong đó đạo đức học thuật cũng xuống cấp. Nhiều hiện tượng tiêu cực, chẳng hạn như mua bán chức vụ, mua bán bằng cấp, mua bán giải thưởng. Những hiện tượng tiêu cực đó, các cơ quan thông tin đại chúng và dư luận quần chúng cũng đã nói nhiều rồi, mình viết cuốn này chẳng qua chỉ là góp một tiếng nói bé nhỏ của mình vào luồng dư luận ấy thôi”

Vì cuốn sách này mà trong giới văn nghệ cũng có tiếng này, tiếng nọ về anh .

         Ngày tôi vừa chân ướt chân ráo đến Hội Nhà văn, Nguyễn Tùng Linh nửa đùa nửa thật, bảo, mày tiếp xúc với các nhà văn phải cẩn thận, phức tạp lắm đấy!

*

Lần trước, đến thăm anh Trực, anh hãy còn khỏe, anh dẫn tôi và Nguyễn Tùng Linh ra quán thịt chó gần con kênh trước nhà anh. Ba anh em quất hết một chai rượu ngang. Nói đủ thứ chuyện trên trời dưới bể. Anh Trực có cách nhìn nhận, đánh giá con người và tính cách của họ hơi cực đoan. Anh nói một lóng. Không úp mở che đậy. Rất chân thành và sòng phẳng. Tính cách ấy tôi cũng gặp ở nhà thơ Võ Thanh An, nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi. Những nhà văn quê Nghệ thường là như vậy!

Anh Trực nói nhỏ và chậm. Nhưng trí nhớ thì còn rất tốt. Anh hỏi thăm hoàn cảnh gia đình tôi khá cặn kẽ. Tôi thật sự xúc động khi nghe anh hỏi : Nhung và các cháu khỏe cả chứ em? Thì ra, anh vẫn còn nhớ tên vợ tôi là Nhung. Anh bảo, đầu óc anh vẫn minh mẫn, vẫn đọc được, chỉ viết không được thôi. Tôi ân hận vì không mang theo quyển sách nào để tặng anh. Anh khen bài hát Nguyễn Trọng Tạo phổ thơ Lê Huy Mậu rất hay. Anh bảo, Mậu viết lên tay đấy. Mình có đọc bài viết về Tạo in trên báo Văn hóa Nghệ An, Mậu viết hay đấy! Thời gian ngồi chuyện trò với anh thật quý giá. Tôi còn muốn ngồi với anh thêm một lúc nữa, nhưng Nguyễn Tùng Linh bảo có hẹn nên xin phép anh để về.

Tôi nhìn anh lòng rưng rưng lưu luyến, xin lỗi, lúc ấy, tôi có cảm giác như là khó mà gặp lại anh thêm một lần nữa. Khi đi qua phòng khách phía dưới, trông thấy ly chén trên bàn đã lâu không có người dùng. Bộ bàn ghế tiếp khách kê gần cửa ra vào như chỉ còn có ý nghĩa trang trí. Tôi cố lưu lại trong đầu một vài hình ảnh về cơ ngơi căn nhà anh như là sự chia tay lần cuối vậy!

Qua đường bưu điện, đôi ba lần tôi nhận được những cuốn sách mới của anh. Trong đó có tập tuyển “ Thơ- Võ Văn Trực- ” với lời đề tặng rất thân tình: “ Thân quý tặng vợ chồng em Lê Huy Mậu, Hà Nội ngày….

Tôi rất thích những bài thơ anh viết về mùa thu. Cứ định viết cái gì đó về thơ anh mà rồi lần lữa mãi chưa viết được.

Công bằng mà nói, thơ anh Trực quá hiền lành. Thơ anh là thơ kể chuyện, thơ tâm sự. Anh trải lòng mình lên giấy chứ không phải làm thơ. Thế mạnh của anh là sự nhạy cảm, tinh tế trước muôn mặt của đời sống, trước không gian, thời gian. Cảm giác như không phải anh làm thơ về quê hương, về mẹ, về chị, về mùa thu, về tình đất, tình người mà chính tất cả những thứ đó ủy thác, cậy nhờ tâm hồn anh, thông qua anh mà ngân rung, mà vang vọng. Nhà lý luận phê bình Thái Doãn Hiểu, quê Diễn Châu với anh, nhận định: “Với thơ, Võ Văn Trực đã cởi mở tiết lộ mọi bí mật của tâm hồn mình. Đó là trái tim bóc trần của một người chính trực luôn gắn bó với đời nhưng cô độc, ưa trầm ngâm chiêm nghiệm và phán xét trước mọi nhân tình thế cố. Võ Văn Trực đã trút bỏ được đôi cánh nặng nề của hiện thực để thơ thanh thoát bay lên. Thơ anh chân mộc mà thắm, trực diện và quyết liệt, phúng thích mà vẫn trữ tình. Thơ Võ Văn Trực chứa hương, bão, máu, lửa cháy đến tận cùng buồn vui của kiếp người”. Tuy nhiên, ông cũng đánh giá: “Anh Võ- ( chữ dùng của TDH ) như một lão nông thực thụ, anh thâm canh trên cánh đồng thơ của mình. Thâm canh có ưu điểm mà cũng có nhược điểm; “Anh Võ” thâm canh kỹ quá về đề tài; Thâm canh kỹ quá về hình tượng; Thâm canh kỹ quá về cấu tứ, thể thơ”. Rằng: “Anh Võ” làm thơ theo lối cũ, ít sáng tạo. Âm hưởng chung các bài cứ đều đều (monoton) na ná một giọng.”

Tôi đã tỉ mẩn ngồi tính đếm những cuốn sách đã xuất bản của anh Trực ghi ở phần “Cùng một tác giả” ở trang cuối tập tuyển thơ của anh. Cuốn đầu tiên là tập thơ “Cây Xuân” in chung hai tác giả xuất bản năm 1962. Cuốn mới nhất xuất bản năm 2003. Tính đến năm 2003, anh đã xuất bản 12 tập thơ; 14 tập văn xuôi và 10 tập về Văn học dân gian. Trong số này chưa có “Vết sẹo và cái đầu hói”, chưa có “Những cọng rêu dưới đáy ao” và nhiều cuốn khác sau năm 2003.

Chia tay anh Trực , tôi cứ vẩn vơ nghĩ suy mãi về cõi văn chương, về kiếp sống khôn- dại của đời người. Anh Trực có một lý lịch thật hoàn hảo để thăng tiến trên con đường công danh. Là học sinh trường Huỳnh Thúc Kháng gần như là lứa đầu tiên sau ngày hòa bình lập lại. Được chọn đi học Ngân hàng ở nước ngoài, không đi mà chỉ học quanh quẩn trong nước.Tốt nghiệp đại học khi mà sinh viên ra trường hồi ấy còn lác đác như lá mùa thu. Được điều động về công tác ở Bộ Ngoai giao- nơi mà thời ấy phải là người có lý lịch “ ba đời ăn rau má” mới được. Người ta mơ không xong, còn anh thì đang yên, đang lành quày quả xin chuyển ngành sang làm biên tập Nhà xuất bản. Rồi trở thành biên tập viên, Phó Tổng biên tập một tờ báo Văn to nhất nước. Với nhiều thế hệ nhà văn lẫy lừng làm Tổng biên tập. Biết bao nhiêu nhà thơ đã trưởng thành đều đi qua cửa biên tập của anh để có bài thơ trình làng đầu tiên với bạn đọc cả nước. Ngày về hưu, anh ra về với một “túi càn khôn” nặng trĩu nỗi niềm vinh- nhục với văn chương.

Thông thường, người đời quen phò thịnh chứ không mấy ai phò suy. Nhà văn cũng là người đời. Nhà văn cũng là người đời nhưng khác người đời. Ấy là nói những nhà văn đích thực. Những nhà văn còn mang trong mình khí tiết “ nho phong đạo cốt”của nhà văn. Còn thì, trong cõi nhốn nháo thị trường như sau này, ngày càng hiếm những nhà văn có cốt cách như anh Trực. Mọi chuyện như còn đó. Tôi đồ rằng, những nhà văn lúc sống “được” nhiều quá thì lúc chết chẳng còn gì cả. Trái lại, những nhà văn lúc sống có nhiều gian truân, thiệt thòi, lúc chết đi lại được trả lại vẹn nguyên. Vẫn còn có một thứ công bằng, không phải từ tạo hóa, mà từ bạn đọc, từ nhân dân cho mọi sự hy sinh, cho mọi sự lặng thầm cống hiến.

Nhiều lúc, nhìn trang tiểu sử nhà văn, tôi cũng thấy tủi lòng. Người đời mấy ai đọc được tác phẩm của mình đâu. Họ chỉ nhìn vào bảng thống kê giải thưởng, nhìn vào những chức vị mà nhà văn đó nắm giữ trong chốn văn chương mà phẩm bình, đánh giá. Một thời, như vậy là công bằng, là chính xác. Nhưng bây giờ xem ra không thuần túy như vậy nữa rồi. Nhiều nhà văn “hành nghề” viết văn, tìm danh lợi bằng viết văn, nhưng có rất ít nhà văn ý thức được thiên chức cao cả của văn chương. Và trong số nhà văn ít ỏi ý thức được thiên chức cao cả của văn chương ấy, tôi nghĩ là có tên nhà văn Võ Văn Trực kính yêu của tôi.

“ Kho tàng” của nhà văn để lại cho đời, có nhiều thứ phục vụ ngay được cho mình, cho chính quyền, cho thể chế đương đại, cho nhu cầu thiết yếu về hưởng thụ văn hóa thường ngày…Nhưng, văn chương cũng có thứ giống như “rau quả ngắn ngày” để ăn ngay, để chống đói. Có thứ giống như là trồng cây “lưu niên”, phải hàng năm, hàng chục năm sau mới cho thu hoạch. Gần đây, dần lộ ra những nhà văn bị chìm khuất trong bóng tối của dư luận. Nhưng, có ai ngờ đâu, chính trong sự quên lãng của xung quanh, họ vẫn lầm lũi sáng tác. Họ biết “hy sinh” nhiều thứ hào nhoáng nhất thời, bên ngoài, nhiều những thứ thiết yếu cho đời sống cho riêng mình, cho vợ con gia đình mình, để chuyên tâm làm cái việc mà, tạo hóa trao cho họ, cái quyền được là chính mình, được nói, được viết theo chính kiến của mình trong mọi biến động lịch sử mà họ được chứng kiến, được làm người trong cuộc.

Trong “kho tàng” văn chương của anh Trực, có thứ chắc chắn đã “hết thời gian sử dụng” . Có thứ – như tâm sự của anh- là để góp vào tiếng nói chung trước một hiện tượng xấu nào đó của xã hội. Có thứ là để “trả nợ”. “ Nợ” làng, “nợ” nước, “nợ” dân mà anh đã “ mắc nợ” họ từ thuở thiếu thời, từ thuở còn đi học. Nhưng, có một thứ, trong chốn văn chương, nhiều người coi thường nó, xem nhẹ nó, đó là những cuốn sách về văn học dân gian. Tôi nghĩ rằng, chính là những cuốn sách bị xem nhẹ, bị coi thường đó, lại là những cuốn sách sẽ còn sống mãi với thời gian. Bằng một sự cần mẫn hiếm có, bằng một tình yêu quê hương hiếm có, anh Trực đã bỏ ra không ít thời gian và tâm huyết cho những tập sách khảo cứu, sưu tầm về Văn học dân gian. Những cuốn như: Vè Nghệ Tĩnh; Cố Bợ; Kho Tàng ca dao Xứ Nghệ; Những thi sĩ dân gian; Vè làng Hậu Luật; Truyện ma làng Hậu Luật; Các tập đồng giao: Tùng dinh, tùng dinh; Nghé ơ, nghé ọ; Cưỡi ngựa loong koong…của anh, đến một lúc nào đó nó sẽ trở thành những “ báu vật” đối với các thế hệ mai sau.. .

          Nhà thơ Võ Văn Trực- Một người quê giữa phố. Điều đó không thuần túy chỉ là cái nhìn dáng vẻ bề ngoài của anh. Tôi nghĩ rằng, phải đủ tự tin, bản lĩnh lắm mới có thể sừng sững làm một người quê giữa phố như nhà thơ Võ Văn Trực của chúng ta!

Vũng Tàu, thượng tuần tháng 10.2015 

About hoingovanchuong

Nhà văn
This entry was posted in 03.Chuyện làng văn and tagged , . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s