MẶT NẠ THÂM CUNG (2)

Bìa sách MNTC

Bìa sách MNTC

Tiểu thuyết của TRẦN HOÀNG TRÚC

NTT: Anh bạn tôi bảo năm vừa rồi anh đọc được 50 cuốn tiểu thuyết, riêng tiểu thuyết Việt Nam anh thích nhất là “Mặt nạ thâm cung”. Anh thích vì nó gây cho anh nhiều bất ngờ thú vị. Truyện dã sử mà như thật. Giả trá lên ngôi và sự thật bị bóng đè, nhưng cuối cùng “mặt nạ” rơi xuống và câu chuyện kết thúc quá bất ngờ. Tình yêu và quyền lực. Tự nguyện và chiếm đoạt… Chuyện 370 trang mà đọc nhanh như một giấc mơ vừa dữ dội vừa êm ái…

Xin giới thiệu cùng bạn tiểu thuyết “Mặt nạ thâm cung” do tác giả dành riêng cho HNVC:

*

CHƯƠNG 2

  1. ĐIỆN VÔ ƯU

Thời gian như vó câu qua cửa sổ, thấm thoát đã ba năm trôi qua.

Một sớm mai trong trẻo tinh khôi, hoàng tử Lê Anh tản bộ trong hoàng cung, ngắm nhìn vạn vật đang vào thu xanh biếc. Thời gian gần đây chàng bắt đầu có sở thích ngắm nhìn cảnh vật lúc bình minh để tâm hồn được lắng sâu trong tĩnh tại. Hoàng tử thích ngắm nhìn những hàng cây còn ngái ngủ lúc hừng đông. Ngắm mặt trời vươn mình thức dậy, ban phát nhân gian những tia nắng ấm áp đầu tiên trong ngày. Ngắm cánh chim chao nghiêng chấp chới trên vùng trời tự do. Ngắm từng đàn cá nhởn nhơ bơi lượn dưới hồ. Chàng thích ngắm những giọt sương mai trong suốt lấp lánh trên phiến lá non tơ, ngắm những bông hoa chớm nụ xinh xinh chốc chốc lại lay mình khi gió lùa hây hẩy.

Ba năm nay Lê Anh không còn vướng bận đến ái tình nhi nữ nên toàn tâm chí thú vào việc ôn văn luyện võ, trở thành trang tuấn kiệt văn võ song toàn. Không những thế mỗi khi rỗi rảnh chàng còn nghiên cứu cả binh pháp, nhạc họa và y học. Chàng cũng bắt đầu quan tâm đến thế sự nhiều hơn. Riêng việc phòng the thì ái ân chiếu lệ, chăn gối nhạt thưa. Đã ba năm trôi qua kể từ ngày hôn lễ song những lần phu thê chung gối rất đơn điệu và tẻ nhạt. Vốn không mấy mặn mà như xưa kia đối với Uyển My.

Nếu lúc xưa Lê Anh từng cảm thấy thương hại cho những con người sống trong hoàng cung chẳng biết ái tình là gì, hôn nhân đều do song thân định đoạt, thì giờ đây chàng lại chua chát nhận ra mình mới là người đáng thương hại nhất. Bởi lẽ nếu không biết tình yêu là gì thì chàng sẽ không phải khổ đau tột cùng khi tình yêu chết. Không kết hôn với một trái tim trống rỗng. Không hững hờ gượng gạo ái ân.

Nỗi buồn ký ức vừa mới manh nha thức dậy trong tâm trí thì hoàng tử lập tức xua tan bằng cách phóng tầm mắt ngắm nhìn bao quát toàn cảnh hoàng cung. Những mong cảnh đẹp sẽ khiến quá khứ không vui được ngủ yên chốc lát.

Hoàng cung là một phức hợp kiến trúc mênh mông với chính tịch bảy gian. Tiền tịch, hậu tịch đều chín gian, mái được thiết kế theo kiểu “trùng thiềm điệp ốc” (1), lợp ngói âm dương. Bố cục mặt bằng của hệ thống kiến trúc chặt chẽ và đăng đối. Các công trình đều đối xứng từng cặp qua trục chính và ở những vị trí tiền, hậu; thượng, hạ; tả , hữu luôn nhất quán tả văn hữu võ, tả nam hữu nữ, tả chiêu hữu mục. Con số 9 và 5 được sử dụng nhiều trong kiến trúc vì theo Dịch lý, con số ấy ứng với mạng thiên tử. Điều này lý giải vì sao người xưa thường gọi ngôi vua là ngôi cửu ngũ.

Mang trên mình hàng chục công trình kiến trúc với qui mô lớn nhỏ khác nhau, hoàng cung được phân chia làm nhiều khu vực. Có tất cả tam cung, ngũ điện và sáu khu viện mà người ta vẫn thường gọi là lục viện là nơi dành cho các cung tần mỹ nữ có phẩm cấp từ tam giai tần trở xuống.

Cũng cần nói rõ về thứ tự cấp bậc vương phi thì vua Thế Tôn phân làm chín bậc. Trong đó chánh cung hoàng hậu là bậc cao nhất. Thứ đến là Quý phi, hay còn gọi là “nhất giai phi”. Hoàng phi bậc nhì hay là “nhị giai phi”. Quý tần, Hiền tần, Trang tần bậc ba hay là “tam giai tần”. Đức tần, Thục tần, Huệ tần bậc bốn hay là “tứ giai tần”. Lệ tần, An tần, Hoà tần làm bậc năm hay là “ngũ giai tần”. Tiệp dư làm bậc sáu hay là “lục giai tiệp dư”. Quý nhân làm bậc bảy hay là “thất giai quý nhân”. Mỹ nhân làm bậc tám hay là “bát giai mỹ nhân”, và Tài nhân làm bậc chín hay là “cửu giai tài nhân”. Dưới tài nhân là “tài nhân vị nhập giai”, là những người được tuyển chọn để làm tài nhân, kế dưới là cung nga thể nữ.

           Tam cung gồm các cung dành cho hoàng hậu, quý phi và hoàng phi: cung Phụng Lạc là nơi ở của hoàng hậu Cao Uyên Cát, cung Tiêu Dao là nơi ở của Trịnh quý phi Trịnh Giai Chi. Còn cung Chiêu Loan thuộc quyền Hân phi Đặng Tuyết Hân (vì trùng họ vua nên nàng được gọi là Hân phi để tránh phạm húy).

Song song đó là ngũ điện bao gồm: Điện Long Vân của Thế Tôn hoàng đế là điện lớn nhất. Điện Khánh Tuyết của thái tử Vinh Tường. Điện Nghênh Xuân của tam hoàng tử Thừa Khôn. Điện Nguyệt Phòng của tứ hoàng tử Lê Anh. Và điện Vô Ưu của nhị hoàng tử Thọ Khang quá cố, nay là nơi ở của tài nhân Phan Quỳnh Thơ.

Trong số các cung điện thì điện Vô Ưu lại khiến người ta ưu tư nhất khi nghĩ đến những kỷ niệm không vui trong quá khứ mà vị chủ nhân đầu tiên của nó đã trải qua tại đây.

Điện Vô Ưu vốn được ban cho nhị hoàng tử Thọ Khang. Nhưng trớ trêu thay vị hoàng tử này không được thọ khang như tên gọi của mình mà đã sớm quy tiên khi mới lên mười vì bệnh chân tâm thống (*). Thân mẫu của chàng, Hồ phi Hồ Lệ Tuyết không lâu sau đó vì quá buồn đau đã quẫn trí phát cuồng. Một đêm kia nhân lúc vắng người đã gieo mình xuống một trong năm hồ bán nguyệt tại vườn Lạc Tiên mà chết.

Điện Vô Ưu từ đó vô chủ nên ngày càng hoang vắng lạnh lẽo. Thi thoảng lại có người nghe thấy tiếng khóc than ai oán về khuya khiến các thị nữ vô cùng sợ hãi, chẳng dám héo lánh đến đây khi đêm về.

Mười năm sau đó thì mọi việc đã thay đổi hẳn.

Đó là khi tài nhân Phan Quỳnh Thơ được Thế Tôn hoàng đế đặc cách ban cho điện Vô Ưu. Thường thì các tài nhân chỉ được ngụ tại Lục viện song trường hợp của tài nhân họ Phan khá đặc biệt. Tuy nhan sắc nàng không thể sánh với Trịnh phi nhưng Quỳnh Thơ là một nữ nhân kỳ tài trong thiên hạ. Nàng không những làu thông kinh sử lại am tường nhạc họa thơ ca nên rất được hoàng thượng yêu thích. Với diện mạo thanh tú, tính cách trong sáng vui tươi lại thêm sở thích chơi nhạc mỗi ngày, hoàng thượng tin rằng tài nhân họ Phan sẽ xóa tan u ám và đem đến điện Vô Ưu một nguồn sinh khí mớI.

Quả đúng như vậy, nàng Quỳnh Thơ hệt như một ngọn gió mát lành mang đến niềm vui cho mọi nơi nàng xuất hiện. Ngay khi vừa chuyển đến điện Vô Ưu nàng lập tức cho sơn mới khắp trong ngoài điện. Lau dọn phát quang mọi ngóc ngách. Thay mới tất cả chăn màn, rèm cửa. Mở toang các khung cửa sổ cho nắng tràn vào. Nàng còn cho treo nhiều lồng chim tại các hành lang và lối đi trong hoa viên. Mỗi ban mai hay chiều tà tiếng chim luôn rộn rã.

Không những thế mỗi ngày Phan tài nhân đều cùng các cung nữ chơi các loại đàn, thổi sáo nên chẳng mấy chốc điện Vô Ưu trở thành một thiên đường của âm thanh và ánh sáng. Ngày ngày tiếng chim hót, tiếng đàn reo, tiếng ca hát rộn ràng đã đẩy lùi mọi khuất tất buồn đau, khiến điện Vô Ưu trở thành nơi tươi vui nhất trong cấm cung thâm trầm đầy toan tính.

Tài nhân họ Phan còn có biệt tài xuất khẩu thành thơ và sau đó tự phổ thơ thành những khúc nhạc tuyệt vời khiến người nghe thích thú. Ngay cả Lê Anh mỗi khi nhàn rỗi cũng thích đến hoa viên trước điện Vô Ưu để được nghe nhạc nghe đàn.

  • Trùng thiềm điệp ốc: mái ngói chồng lên nhau
  • Chân tâm thống: thiếu máu cơ tim gây đau thắt ngực

 2. NGHI ÁN TRỤC THAI

Lại nói kể từ khi thành hôn với ái nữ của Ngô thượng thư thì cán cân thế lực giữa Lê Anh và nhị vị hoàng huynh đã trở nên khá đồng đều đăng đối. Vốn dĩ trước đây quyền lực trong triều phần lớn đều rơi vào tay Cao quốc cựu, anh trai của Cao hoàng hậu, người đứng đầu bá quan văn võ trong triều. Song từ khi kết thông gia với họ Ngô, Thế Tôn hoàng đế bắt đầu phân tán bớt quyền lực của họ Cao và san sẻ cho thượng thư Ngô Trọng Sách nhằm giảm đi áp lực từ chánh cung hoàng hậu.

Bên cạnh đó, Ngô thượng thư với tham vọng muốn con gái trở thành mẫu nghi thiên hạ sau này nên đã tích cực khuếch trương vây cánh ủng hộ tứ hoàng tử. Điều này khiến cả hoàng hậu và Hân phi giờ đây đều kiêng dè Trịnh phi. Họ nhận ra đối thủ giờ đây đã lợi hại hơn trước bội phần, không dễ bị vu hại như xưa nên không thể khinh suất. Thế nên cả hai người đều thay đổi chiến thuật, không tìm cách tấn công đối phương mà chỉ ngấm ngầm thúc bách hoàng thượng lập con mình làm thế tử. Cả ba vị nương nương đều gây áp lực khiến Thế Tôn hoàng đế mệt mỏi vô cùng.

Hoàng thượng rất băn khoăn do dự không biết chọn ai làm thế tử vì thái tử Vinh Tường tuy là trưởng tử nhưng lại là người kém tài vô tướng nhất. Thừa Khôn và Lê Anh đều đáng chú ý vì cả hai đều tài trí hơn người. Thừa Khôn tuy túc trí đa mưu, nổi bật về tài đối nhân xử thế song thể chất yếu đuối trói gà không chặt lại không có được khí chất trượng phu quân tử của Lê Anh. Khí chất của tứ hoàng tử ngày càng giống vua cha khiến Thế Tôn nhiều lần nhìn chàng chăm chú, dường như ngài đang thấy lại thời trai trẻ của mình.

           Trước khi đi đến một quyết định hệ trọng như sắc phong thế tử, Thế Tôn không thể không đắn đo cân nhắc. Do vậy, Đức kim thượng cho phép cả ba vị hoàng tử được tham gia triều chính mỗi ngày để có cơ hội bộc lộ tài năng của mỗi người. Từ đó ngài có thể âm thầm quan sát, so sánh trước khi định đoạt.

Đôi khi tứ hoàng tử Lê Anh không khỏi thắc mắc tại sao hậu cung có đến hàng trăm phi tần mỹ nữ mà phụ hoàng chàng chỉ có vỏn vẹn ba hoàng tử. Song lần hồi chàng cũng biết được nguyên do. Cao hoàng hậu vốn muộn con, mãi năm năm sau ngày nhập cung người mới thọ thai và sinh hạ thái tử Vinh Tường. Trước đó hậu cung có đến ba vị phi tần thọ long thai nhưng đều bị sẩy thai một cách đáng ngờ, thậm chí có người còn bị băng huyết mà chết. Trong cung có lời đồn vì hoàng hậu không có con nên đã mật lệnh cho quan thái y bỏ độc dược khiến hư thai trong thang thuốc dưỡng thai sắc cho các phi tần.

Miệng người sóng biển, lời đồn cuối cùng cũng đến tai Thế Tôn hoàng đế. Người lập tức điều tra tất cả sự việc liên quan bằng cách tra vấn thái y, xem lại các toa thuốc cũ để điều tra thành phần thang thuốc. Tìm hiểu các triệu chứng và tình huống sẩy thai, lấy lời khai của các thị nữ có liên quan… nhưng vẫn không phát hiện được một manh mối bất thường nào. Tuy vậy nghi án này vẫn làm cho các phi tần đều hoảng sợ, hiển nhiên không muốn trở thành nạn nhân kế tiếp của hoàng hậu. Thế nên mỗi khi được hoàng đế sủng hạnh, họ luôn tìm mọi cách tránh thai để bảo toàn mạng sống cho mình.

Mãi đến năm năm sau Cao hoàng hậu hạ sinh thái tử Vinh Tường thì các phi tần mới thôi hoảng hốt ngừa phòng.

Vậy nên khi thái tử Vinh Tường lên ba thì Hồ phi Hồ Lệ Tuyết cũng sinh hạ nhị hoàng tử Thọ Khang,

Rồi sau đó Hân phi lần lượt sanh công chúa Song Thư và tam hoàng tử Thừa Khôn.

Vài năm sau mẹ chàng, Trịnh phi Trịnh Giai Chi, hạ sinh tứ hoàng tử.

Về sau không một phi tần nào thọ thai nữa, có lẽ vì lúc này phụ hoàng cũng đã lớn tuổi rồi.

Năm Lê Anh hai tuổi thì nhị hoàng tử Thọ Khang qua đời ở tuổi lên mười vì bệnh chân tâm thống.

Sáu năm sau công chúa Song Thư được phụ hoàng gã cho quốc vương tiểu quốc Giao Khê để đổi lấy ba quận Quế Ninh, Kiến Hòa và Nam Lộc.

Từ đó trong cung chỉ còn ba vị hoàng tử.

 3. TƯƠNG KIẾN TRẠNG NGUYÊN

Tưởng cũng nên nói sơ qua về hệ thống quan chức dưới thời Thê Tôn hoàng đế. Tổ chức chính quyền của nhà Đặng chia thành hai ban văn và võ. Riêng ban võ bao gồm các quý tộc, tôn thất am hiểu võ nghệ, các tướng lĩnh trực tiếp cầm quân chỉ huy các đơn vị. Tất cả đều nằm trong hệ thống võ quan, tướng lĩnh từ trung ương đến địa phương và hình thành hai cấp: quan trong (tức quan trong kinh thành, chỉ huy quân triều đình) và quan ngoài (quan ở các địa phương, lộ, trấn hoặc châu).

Khác với các hệ thống quan chức tiền triều, sau khi Cao thái sư qua đời thì nhà Đặng hủy bỏ hoàn toàn bốn chức thái (thái sư, thái phó, thái bảo và thái uý), cũng như bốn chức thiếu (thiếu sư, thiếu phó, thiếu bảo và thiếu uý) vốn đều là những trọng chức của các triều đại khác. Bởi Thế Tôn hoàng đế không muốn trao quyền hành quá lớn cho các quan dưới quyền phòng ngừa việc lộng quyền khuynh loát soán nghịch.

Thay vào đó, hoàng thượng bổ nhiệm văn giai có các chức: Thượng thư, tả hữu bộc xạ, tả hữu ty lang trung, tả hữu gián nghị đại phu, tri khu mật viện sự, khu mật viện tham chính, thiêm tri mật viện sự, trung thơ thị lang, ngự sử đài, Đông các đại học sĩ, hàn lâm viện học sĩ, v.v. làm việc trong các cơ quan hành chính và chuyên môn. Về võ giai, có các chức: Phiêu kỵ thượng tướng quân, cấm vệ thượng tướng quân, kim ngô đại tướng quân, vũ vệ đại tướng quân, phủ quân phó đô tướng quân, thân vệ tướng quân, điện soái đô áp nha, quản quân tiết độ sứ, đô thống chế, v.v..

Nguyên phụ thân của hoàng hậu – thái sư Cao Kiến Quốc – là người từng lập được rất nhiều đại công cho tiền triều nên tiên đế đã chọn ái nữ của ông là Cao Uyên Cát làm thái tử phi, sau này chính là đương kim hoàng hậu. Vì vậy quyền lực trong tay Cao thái sư rất lớn, và sau khi ông qua đời thì binh quyền của ông được Thế Tôn chuyển giao cho Cao Kiến Trung, anh trai hoàng hậu. Tuy nhiên Đức kim thượng bãi bỏ chức Thái sư và chỉ phong cho Cao quốc cựu làm Phiêu kỵ thượng tướng quân để tránh việc y nắm quá nhiều binh quyền, lấn át quyền vua.

Có thể nói Thế Tôn hoàng đế là một vị vua anh minh lỗi lạc, nên triều đại của ngài là thời kỳ thái bình thịnh trị, đời sống muôn dân sung túc ấm no. Vốn thông minh sáng suốt, liệu việc như thần, hoàng thượng luôn biết cách xử lý việc nước một cách khôn ngoan và thấu đáo khiến quần thần trên dưới đều bội phục. Những buổi ngự triều được chứng kiến tài trị quốc của Thế Tôn, tứ hoàng tử Lê Anh không khỏi ngưỡng mộ và học hỏi rất nhiều từ phụ hoàng.

Buổi ngự triều hôm nay là một ngày đặc biệt, Thế Tôn hoàng đế cho triệu kiến tân trạng nguyên Hàn Nguyên Ngọc, người vừa liên tục đỗ đầu cả ba kỳ thi: Hương, Hội, Đình vừa qua. Bá quan văn võ và cả ba vị hoàng tử đều hiếu kỳ nhìn ra cửa điện khi thái giám xướng giọng “Thánh thượng triệu kiến tân trạng nguyên Hàn Nguyên Ngọc”.

Và khi tân trạng nguyên khoan thai bước vào triều bái long nhan thì ai nấy đều ngỡ ngàng ngạc nhiên. Trong tâm trí mọi người đều hình dung Hàn trạng nguyên hẳn phải là một nho sinh dạn dày tuổi tác mới có thể đỗ đầu liên tục tam khoa. Ngờ đâu chỉ là một nam tử tuổi chừng đôi mươi vô cùng tuấn tú. Tân trạng nguyên vận y phục bằng lụa trắng tinh khôi. Dáng dấp chàng thư sinh nho nhã, bước đi thanh thoát nhẹ nhàng khiến mọi người đều ngưỡng mộ. Chàng có khuôn mặt ưu tú, thần thái thanh tao. Bên dưới vầng trán thông tuệ là một đôi mắt tinh anh song phảng phất một nổi buồn diệu vợi.

Lúc này mọi cặp mắt đều đổ dồn vào chàng, tiếng thì thầm lao xao tán tụng “tuổi trẻ tài cao” “hậu sinh khả úy” , “tướng mạo bất phàm”,”xem kìa còn khôi ngô hơn cả tứ hoàng tử”. Ngay cả Lê Anh cũng ngạc nhiên tấm tắc khen thầm.

Sau khi phủ phục triều bái Thế Tôn và được nhà vua ra hiệu bình thân, Nguyên Ngọc đứng dậy chờ đợi. Quá ngạc nhiên khi trạng nguyên còn măng trẻ mà đã đỗ đầu tam khoa, Thế Tôn muốn đích thân thử tài chàng xem hư thực thế nào bèn cất tiếng:

  • Chẳng hay Hàn trạng nguyên quê quán ở đâu, gia cảnh thế nào?
  • Muôn tâu bệ hạ, tiểu sinh là người gốc gác Ninh Lăng. Phụ mẫu lúc sinh thời là điền chủ, song đều đã quy tiên. Hàn gia chỉ còn duy nhất mỗi mình thần thừa tự.
  • Thì ra là vậy, quả nhân nghe nói khanh là người học cao hiểu rộng, kiến thức uyên thâm. Chẳng những vậy cầm kỳ thi họa đều quán tuyệt, quả có thế chăng?
  • Muôn tâu bệ hạ, đó chỉ là lời đồn thổi, hạ thần lấy làm hổ thẹn, thực không dám nhận – Nguyên Ngọc tỏ ra khiêm tốn.
  • Dù sao Trẫm vẫn muốn biết kiến thức của tân trạng nguyên uyên bác thế nào.

Nói rồi Đức kim thượng lần lượt nêu các câu hỏi thuộc mọi lĩnh vực từ văn chương, nhạc họa, kinh dịch thậm chí cả kiến thức về binh pháp. Nguyên Ngọc ứng đáp rành rẽ mạch lạc như nước chảy mây trôi cho thấy kiến thức chàng hết sức sâu rộng. Lời lời ý ý của trạng nguyên như phun châu nhã ngọc, khiến người nghe bội phục muôn phần. Tâm đắc như được uống rượu ngon, Thế Tôn hoàng đế hài lòng đẹp ý bèn hạ chỉ:

  • Quả là biển học mênh mông, xứng đáng trạng nguyên. Nay trẫm phong khanh làm Đông các đại học sĩ, ban phủ tại kinh thành, từ nay được dự triều mỗi ngày để tham gia chính sự.

Hàn Nguyên Ngọc lãnh chỉ tạ ơn. Về sau có người đề thơ tán tụng chàng rằng:

Người đâu thanh thoát lạ kỳ

Tài hoa lỗi lạc khác gì tiên nhân

Bãi triều, bá quan văn võ lũ lượt ra về. Đây đó xôn xao nao nức tiếng khen ngợi tân trạng nguyên. Lê Anh cũng thầm ngưỡng mộ Hàn. Hoàng tử hy vọng một ngày nào đó có dịp sẽ tiếp kiến, cùng Nguyên Ngọc đàm đạo văn chương cho thỏa chí bình sinh.

***

Cầu được ước thấy, buổi chiều khi sang cung Tiêu Dao vấn an Trịnh phi, Lê Anh ngạc nhiên phát hiện mẹ chàng đang trò chuyện cùng Hàn Nguyên Ngọc tại khách phòng. Vừa trông thấy chàng Trịnh phi đã vồn vã giới thiệu:

  • Ta đợi hoàng nhi từ nãy giờ. Vị này là Đông Các đại học sĩ Hàn Nguyên Ngọc chắc con đã biết

Hàn Nguyên Ngọc đứng dậy cúi chào:

  • Tiểu sinh bái kiến tứ hoàng tử. Nghe danh điện hạ tài năng xuất chúng đã lâu, nay được tiếp kiến thật là vạn hạnh.

Lê Anh khẽ gật đầu ra hiệu bình thân rồi ngước nhìn Trịnh phi dọ hỏi.

  • Hàn học sĩ là văn tài lỗi lạc trong thiên hạ. Ta muốn xin với Đức kim thượng phong y làm thái phó giúp con ngày càng tinh tấn sở học, hoàng nhi thấy thế nào? – Trịnh phi mở lời.

Nghe vậy Hàn Nguyên Ngọc bối rối đáp lời:

  • Nương nương quá khen khiến tiểu sinh tự thấy hổ thẹn. Nguyên Ngọc tài hèn sức mọn so với điện hạ khác nào đom đóm so với ánh trăng. Vạn lần không dám nhận danh xưng thái phó. Nếu được kết bằng hữu tri giao sớm hôm đàm đạo chuyện văn chương với tứ hoàng tử thì đã là phúc phần vạn hạnh của tiểu sinh rồi.

Trịnh phi gật gù tỏ ý hài lòng rồi quay sang Lê Anh mà rằng:

  • Hàn học sĩ quả là khiêm tốn, hoàng nhi có tán thành nhã ý kết bạn tri giao với Nguyên Ngọc chăng?
  • Thưa mẫu thân, nhi thần rất lấy làm hoan hỉ. – Lê Anh hồ hởi ra mặt.
  • Nếu vậy hoàng nhi hãy dẫn lối đưa Hàn trạng nguyên đến Nguyệt Phòng để mai sau y tiện bề lui tới!

Lê Anh gật đầu tuân mệnh rồi cùng Nguyên Ngọc rời khỏi Tiêu Dao. Lòng vui như mở hội.

 4. NIỀM RIÊNG CHÔN CHẶT

Kể từ đó Nguyên Ngọc thường xuyên đến điện Nguyệt Phòng cùng tứ hoàng tử đàm đạo văn chương, luận bàn chính sự vô cùng tương đắc. Hai người tâm đầu ý hợp như quen biết nhau từ muôn kiếp trước nên tình cảm ngày càng gắn bó keo sơn và lớn dần theo thời gian. Trái tim giá lạnh bao năm của Lê Anh nay được sưởi ấm bằng tình bạn tri âm khắng khít khiến chàng cũng phần nào nguôi ngoai niềm đau xưa cũ.

Duy có một điều hoàng tử lấy làm lạ vì Nguyên Ngọc tuy có vẻ ngoài nam nhi nhưng phong thái khoan thai, cốt cách dịu dàng thậm chí mong manh như sương khói chẳng khác nữ nhân. Gương mặt thanh tú với làn da sáng mịn của Nguyên Ngọc khiến đôi lúc hoàng tử nghi hoặc nữ cải nam trang song chàng lập tức xua ngay ý nghĩ hoang đường đó vì cho rằng việc ấy khó xảy ra. Thế nhưng mỗi lần nhìn vào đôi mắt trong veo buồn rười rượi như chất chứa một nổi niềm u uẩn của Nguyên Ngọc, hoàng tử lại dấy lên những mối ngờ vực khôn cùng. Nhiều lúc chàng toan hỏi cho ra lẽ song lại e thất thố nên chẳng tiện mở lời.

Riêng hoàng tử vốn xem Nguyên Ngọc như tri kỷ nên không ngại trải lòng tâm sự tất cả những hoài niệm xa xưa. Những ký ức sâu đậm về bảy năm lưu lạc ngọt ngào. Về tình đầu đam mê và đau đớn. Về cuộc hôn nhân gượng ép với Khánh Tiên. Chàng đều tỏ bày cùng Hàn không một chút giấu giếm. Nguyên Ngọc lắng nghe chăm chú và thi thoảng lại dùng lời an ủi hoàng tử ra chiều cảm thông sâu sắc. Thấy vậy Lê Anh thuận miệng hỏi ngược chàng về chuyện riêng tư. Nguyên Ngọc bối rối đáp rằng vì còn tập trung vào việc học nên chưa nghĩ đến tình riêng. Hơn nữa hiện thời chàng vẫn còn đang để tang thân mẫu. Nhắc đến việc phụ mẫu qua đời, đôi mắt Nguyên Ngọc bất giác rớm lệ. Lê Anh trông thấy bèn ôm chầm bạn tỏ lòng an ủi song chủ đích là muốn làm sáng tỏ mối nghi hoặc bấy lâu.

Song cuối cùng hoàng tử đành thất vọng buông ra vì Nguyên Ngọc đích thị là nam tử.

Phần Nguyên Ngọc khi đột nhiên được hoàng tử ôm chầm thì cảm giác như có một luồng xung điện len lỏi khắp châu thân khiến chàng rùng mình thảng thốt. Thực sự suốt bao năm qua Nguyên Ngọc giấu kín trong lòng một mối mặc cảm không thể tỏ bày cùng ai. Chàng sợ sự thật bất thường về con người mình sẽ khiến mọi người xung quanh nhạo báng và kỳ thị.

Từ khi bắt đầu hiểu chuyện thì chàng đã nhận thức mình không phải là một nam tử bình thường. Nói đúng hơn Nguyên Ngọc luôn có cảm giác ẩn trong cơ thể nam nhân của mình là một linh hồn nữ nhi đích thực. Chàng có xu hướng thích soi gương, làm dáng và thậm chí những lúc không người còn lén lút vận y phục của nữ nhân, tô son điểm phấn rồi tự mình ngắm nghía trong gương, ra chiều thích thú. Càng trưởng thành Nguyên Ngọc lại càng nhận ra sự lệch lạc của bản thân và không ngừng dằn vặt mình về căn bệnh đáng xấu hổ này. Hàn cho rằng mình là một kết quả sai lầm của tạo hóa, rằng chẳng ai trên đời này giống chàng. Không ít lần Hàn hoang mang khổ sở thậm chí khủng hoảng tinh thần vì sự dị biệt của mình. Mãi về sau qua sách vở Hàn mới biết chàng đã mắc phải chứng loạn trang.

Song mức độ bệnh của Hàn không dừng lại ở đó. Càng ngày chàng càng tin rằng mình là nữ nhân đích thực trong một thân xác nam nhi. Điều này khiến Nguyên Ngọc hoang mang cực độ và mặc cảm tột cùng. Chàng chỉ e song thân phát hiện sự thật tăm tối này sẽ không khỏi chấn động tinh thần. Vậy mà cuối cùng điều chàng lo ngại nhất cũng vẫn xảy đến.

Việc phát hiện đứa con trai duy nhất của mình đích thị là người bán nam bán nữ đã khiến Hàn viên ngoại chấn động tâm can. Ông dùng đủ mọi cách từ dỗ dành khuyên nhủ đến quát nạt răn đe song Nguyên Ngọc vẫn không thể nào thay đổi được con người chàng. Dường như bản năng sâu kín trong chàng luôn thôi thúc Hàn được trở thành nhi nữ. Vì vậy cho nên thi thoảng chàng lại lén lút vận trang phục nữ nhân, vấn tóc cài trâm, tô son điểm phấn. Không may cho Hàn, chàng lại bị phụ thân bắt gặp một lần nữa. Đau lòng và bất lực, Hàn lão ông đã lâm trọng bệnh rồi qua đời trong uất ức. Mẹ chàng cũng quy tiên không lâu sau đó vì buồn khổ và thất vọng. Cái chết của song thân khiến Nguyên Ngọc càng trĩu nặng mặc cảm. Lương tâm chàng vĩnh viễn không thể tha thứ cho tội bất hiếu của mình.

Đã nhiều phen trong đau khổ tột cùng, Nguyên Ngọc thầm nghĩ đến việc kết liễu cuộc đời bất hạnh, tự giải thoát mình khỏi bể dâu phiền não. Song cuối cùng lại thôi bởi chàng là con trai duy nhất của dòng họ. Các chị chàng đều đã yên bề gia thất từ lâu. Hàn gia chỉ còn mỗi mình chàng lo việc hương khói cúng dường nên Nguyên Ngọc chẳng thể quyên sinh giải thoát. Do vậy chàng chỉ còn cách chuyên tâm chí thú học hành để quên đi thói tật trời sinh. Đồng thời hy vọng sẽ có ngày bảng vàng đề tên, công thành danh toại hầu xoa dịu vong linh phụ mẫu.

Định mệnh đã an bài, suốt cuộc đời Nguyên Ngọc là những chuỗi ngày muộn phiền với mặc cảm không dễ gì khỏa lấp nổi. Lắm lúc chàng chỉ muốn sống nhanh cho hết kiếp người để sớm được luân hồi kiếp khác, trong sáng hơn, lành mạnh hơn và ít khổ tâm hơn.

Điều trớ trêu là càng lớn Nguyên Ngọc càng được nữ giới ái mộ ra mặt trong khi chàng không hề rung động trước nhan sắc nữ nhân. Mãi đến khi gặp hoàng tử Lê Anh thì Hàn mới hoang mang phát hiện những rung cảm khác thường đang trỗi lên mãnh liệt trong lòng. Chàng biết từ nay con tim lạc nhịp của mình sẽ còn khốn khổ vì đã trót vương mang một thứ tình cảm oan nghiệt trái lẽ tự nhiên.

Trông thấy Nguyên Ngọc nghĩ ngợi đăm chiêu, sắc diện bất thường Lê Anh ngạc nhiên dọ hỏi. Nhưng Hàn phủ nhận không có chuyện gì. Trong thâm tâm Hàn dĩ nhiên chẳng hề mong muốn tứ hoàng tử biết sự thật sẽ kỳ thị và xa lánh mình. Chỉ cần được làm bạn với điện hạ, sớm hôm kề cận hàn huyên thì Nguyên Ngọc đã thỏa nguyện lắm rồi. Còn niềm riêng chàng quyết chôn chặt trong lòng chẳng bao giờ tiết lộ.

Ngày tháng thoi đưa, kể từ khi kết bạn tâm giao với Hàn học sĩ thì kiến thức của hoàng tử Lê Anh ngày càng tinh tấn bội phần. Nguyên Ngọc với vốn học uyên thâm đã không chút giấu tài mà còn hết lòng truyền đạt chia sẻ cho tứ hoàng tử. Nhờ vậy Lê Anh ngày càng thông tuệ hơn, dần vượt lên so với hai vị huynh trưởng.

 5. CŨNG THƯỜNG THÔI

Trong ba anh em thì thái tử Vinh Tường lớn nhất song lại là người kém tài nhất.

Điều này chính là nỗi khổ tâm của hoàng hậu Cao Uyên Cát. Chánh cung muộn màng nhận ra chính sự ỷ y khi Trịnh phi thất thế bị đày vào lãnh cung, Lê Anh mất tích còn Hân phi thì luôn tỏ ra khúm núm phục tùng, không dám tỏ mặt tranh đua đã khiến mẫu tử nàng chủ quan suốt nhiều năm liền. Vốn cậy thế trưởng tử lại là con cưng của mẫu nghi thiên hạ, ngôi thế tử mười phần nắm chắc trong tay nên Vinh Tường luôn ỷ lại, biếng nhác trau dồi, không chịu học hỏi. Ngày càng lộ rõ sự thiếu hụt tri thức và kém cỏi trong tâm hồn.

Thế thượng phong đang vững như bàn thạch thì bỗng dưng cục diện đổi thay, uy quyền giảm sút. Trịnh phi quật khởi, Hân phi lánh dần, khiến Vinh Tường phải đương đầu một lúc hai đối thủ lợi hại là Thừa Khôn và Lê Anh. Lúc này mặc dù Cao hoàng hậu đã ra sức đôn đốc con mình trau dồi kiến thức, mở mang tầm nhìn song cuối cùng chánh cung đành bất lực nhận ra việc đó là quá muộn. Đã quen lớn lên trong phóng túng chây lười nên việc dùi mài kinh sử, nâng cao tri thức là một điều gì đó quá sức đối với thái tử. Do vậy Vinh Tường ngày càng thất thế so với tài học của Lê Anh và sự khôn ngoan quyền biến của Thừa Khôn.

Thói thường bất tài sinh tự ti, tự ti sinh yếm thế, yếm thế sinh đố kỵ. Thái tử chẳng mấy thích nghe thấy những lời khen ngợi dành cho một ai đó không phải là mình. Càng không muốn công nhận một người nào khác tài giỏi hơn chàng. Nếu ai đó vô ý khen ngợi trước mặt chàng là tam hoàng tử Thừa Khôn túc trí đa mưu, được lòng thiên hạ thì Vinh Tường sẽ đáp rằng “Cũng thường thôi, ta thừa sức làm được, chỉ là vì ta không muốn đó thôi”.

Hoặc giả có ai vô tình buộc miệng tán tụng tứ hoàng tử Lê Anh võ nghệ siêu quần, văn chương trác tuyệt thì thái tử sẽ lập tức hạ bớt uy phong của đối thủ bằng câu cửa miệng: “Cũng thường thôi, văn võ song toàn đời này đâu thiếu, chỉ là thùng rỗng kêu to, thực tài thì phải khiêm nhường như ta”. Hầu như mỗi khi có dịp luận bàn về tài năng của ai đó thì Vinh Tường đều phủ nhận tất thảy bằng câu cửa miệng “cũng thường thôi”.

Kẻ thiếu tri thức thì nhìn đời bằng con mắt nhỏ hẹp và hành xử kém phần khôn ngoan. Trong trí óc chật chội của mình, thái tử đơn giản cho rằng chỉ cần hạ đối thủ xuống trong mắt mọi người là đã gián tiếp nâng giá trị bản thân. Chàng không ngừng ca ngợi những ưu điểm tầm thường nhất của mình và phủ nhận tài hoa trông thấy của những người khác. Khổ nỗi ngoài việc đó ra thì Vinh Tường chẳng còn cách nào khác để thể hiện sự ưu tú của bản thân, nên về lâu về dài ai cũng nhìn thấy sự thiếu tri thức mà thừa sân si của vị thái tử này. Thế nên bọn thị nữ và thái giám lúc nhàn rỗi vẫn thường lén lút cười nhạo chàng mỗi khi không có ai. Chúng gọi chàng là “điện hạ Cũng Thường Thôi” đúng như câu cửa miệng của thái tử mỗi khi đánh giá người khác.

Sự đời con chim bị vướng vì cái chân của nó, con người bị vướng vì cái lưỡi của mình. Cũng chính vì sở thích chê bai mà điện hạ Cũng Thường Thôi đã bị tam hoàng tử Thừa Khôn chơi khăm một vố rõ đau.

Nguyên trước đó khá lâu trong một dịp Thừa Khôn và Lê Anh đàm đạo văn chương tình cờ hai người luận đến những vần thơ tán dương nhan sắc, tứ hoàng tử buộc miệng ngâm hai câu thơ của phụ hoàng:

Tuyệt thế giai nhân không bì được

Quốc sắc thiên hương cũng oán hờn

Thừa Khôn giả vờ tấm tắc khen và thắc mắc tác giả câu thơ đó là ai, Lê Anh tình thật trả lời là thơ của phụ hoàng đề tặng mẹ chàng được treo tại cung Tiêu Dao nhiều năm rồi ai cũng biết cả.

Thừa Khôn ghi lòng tạc dạ. Hôm khác ngẫu nhiên thái tử Vinh Tường cũng hẹn chàng đối ẩm luận thơ tại đình Nhạc Văn. Huynh đệ đang hàn huyên sôi nổi, tình cờ Thừa Khôn nhác thấy Đức kim thượng đang ngự giá dạo chơi gần đó. Dường như Thế Tôn hoàng đế cũng đã trông thấy hai vị hoàng tử đang đối ẩm bình thơ nên đã ra hiệu ngăn tùy tùng lại, một mình xăm xăm tiến đến đình Nhạc Văn. Tam hoàng tử bèn tương kế tựu kế vờ quay lưng như không trông thấy phụ hoàng. Chàng ngẩn người ra chiều nghĩ ngợi trong giây lát rồi ngâm lại hai câu thơ kia như chính mình vừa ứng tác:

          Tuyệt thế giai nhân không bì được

Quốc sắc thiên hương cũng oán hờn

Sau đó chàng lặng thinh chờ Thái tử Vinh Tường dè bỉu. Quả nhiên, vốn không biết câu thơ đó của ai và càng không hay phụ hoàng đã đến rất gần ở phía sau, “điện hạ Cũng Thường Thôi” lại quen miệng cất tiếng chê bai như thường lệ:

  • Tứ thơ nhảm nhí tầm thường, không làm thì hay hơn!

Thừa Khôn vẫn cố tình không quay người lại nhằm tránh diện kiến long nhan, chỉ tỏ ý bất đồng:

  • Đệ không cho là thường. Nếu hoàng huynh bảo thường thì xin luận rõ.

Vinh Tường lúng túng lấp liếm:

  • Trí se sẻ làm sao có thể lĩnh hội ý đại bàng. Ta có chỉ điểm hoàng đệ chưa chắc đã thấu suốt.

Đức kim thượng tự nãy giờ vẫn lắng nghe câu chuyện đến đây thì tím mặt quay đi. Thái tử hoàn toàn không biết sự hiện diện của phụ hoàng nên vẫn giương giương tự đắc. Còn Thừa Khôn cười khẩy trong lòng. Vậy là chàng vừa hạ bớt điểm đối phương trong mắt phụ hoàng. Khẽ nhếch môi, tam hoàng tử đắc ý nhủ thầm: “Chẳng biết ai đại bàng ai se sẻ, nhưng trước mắt ta vừa đưa được con đại bàng hợm hĩnh này lên dĩa”.

 6. ẨN SỐ THỪA KHÔN

 

Hiển nhiên cả Lê Anh và Vinh Tường đều không phải là đối thủ của Thừa Khôn xét về phương diện mưu mô xảo quyệt, biến trá khôn lường.

Với tham vọng quyết đoạt ngôi thế tử cho bằng được, Thừa Khôn không từ bất cứ thủ đoạn nào và sẵn sàng gạt bỏ mọi chướng ngại vật cản trở đường tiến thân của chàng. Còn nhớ ngày xưa, trong một lần bất ngờ đến vấn an mẫu thân không thông báo trước, tam hoàng tử từng bắt quả tang mẹ mình đang tư thông với tên thái giám giả Lý Hoan. Ngay sau đó chàng đã âm thầm sai người thủ tiêu hắn bất chấp mẫu thân chàng hết lời van xin tha mạng sống cho y. Chàng không muốn chuyện xấu xa của Hân phi vở lỡ sẽ ảnh hưởng đến thanh danh và vị trí của chàng. Hình ảnh của chàng trong mắt phụ hoàng và bá quan văn võ phải tuyệt đối trọn vẹn, sạch sẽ tinh tươm, không một tỳ vết.

Thực chất bản thân Thừa Khôn vốn là người có xu hướng ái kỷ, chẳng yêu ai ngoài bản thân mình. Và khi cần thiết thì chàng không từ bất cứ thủ đoạn nào để đạt được mục đích. Tuy thế mà tam hoàng tử lại biết cách che giấu dã tâm một cách hoàn hảo. Người ngoài nhìn vào sẽ không thể tìm thấy bất cứ sơ hở nào tố giác chân tướng con người chàng. Thay vào đó là hình ảnh một tam hoàng tử luôn khoan hậu và ấm áp, lễ độ và bao dung, điềm đạm và tao nhã. Một người luôn giàu tình cảm, sống vì người khác và hết lòng quan tâm đến mọi người xung quanh. Một hoàng tử luôn tận tâm chăm lo cho dân cho nước đến quên cả hạnh phúc bản thân. Một người con vô cùng hiếu thảo. Một người em luôn chu đáo với thái tử và một người anh luôn tận tụy với Lê Anh.

Có thể nói nếu tứ hoàng tử Lê Anh có vẻ ngoài lạnh lùng nhưng mang trong lòng một trái tim ấm áp, thì Thừa Khôn hoàn toàn trái ngược. Chàng dùng sự ấm áp giả tạo bên ngoài để che dấu sự giá lạnh bên trong. Khả năng che giấu cảm xúc thật của chàng dường như đã đạt đến mức thượng thừa. Thậm chí ngay cả khi vô vùng đố kỵ với sự ưu tú của Lê Anh, xem chàng như một cái gai trong mắt thì Thừa Khôn vẫn không hề để lộ dấu hiệu nào của sự tỵ hiềm. Trái lại chàng còn luôn tỏ ra khen ngợi và động viên tinh thần em mình. Người phàm ai chẳng sân si, thậm chí Thừa Khôn còn sân si hơn cả thái tử ấy chứ. Song chàng cao thủ hơn anh trai ở chỗ khéo che đậy bản chất của mình.

Trong khi cả thái tử và Lê Anh đều chịu sự chi phối của mẫu thân thì Thừa Khôn hoàn toàn ngược lại. Chàng chính là người ngấm ngầm chi phối và điều khiển các hành động của mẹ mình. Điều nghịch lý là Hân phi lại sợ con trai mình nhất vì chỉ có bà mới hiểu rõ con người thật của chàng: Ngọt ngào giả tạo, giảo quyệt khôn lường.

Là người vô cùng tham vọng và khát khao quyền lực nên mối quan tâm hàng đầu và duy nhất của Thừa Khôn là làm thế nào để được kế vị ngai vua. Điều đó lý giải vì sao tam hoàng tử chưa màng đến hôn nhân mặc dù năm nay chàng đã gần tam thập. Vào cái thời mà người ta cho rằng “nữ thập tam, nam thập lục” là lý tưởng thì tuổi tác của tam hoàng tử xem ra đã khá trễ tràng cho việc thành gia lập thất. Song Thừa Khôn không hề mảy may bận tâm điều đó. Đối với chàng mỹ nữ chỉ để tiêu khiển, giải trí những khi nhu cầu bức bách. Chẳng phải để vướng bận tâm trí, trói buộc chân chàng. Vả lại một khi đã lên ngôi thì thiếu gì giai nhân mỹ nữ vây quanh, chàng chẳng việc gì phải vội. Mối quan tâm hàng đầu của tam hoàng tử lúc này là làm thế nào để chóng đạt mục đích: được phong thế tử. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc chạm được tay vào ngai vàng, báu vật số một luôn ngự trị trong tâm trí chàng, kể cả khi vô thức.

Ngoài nguyên nhân trên thì việc trễ nải hôn sự cũng một phần do Thừa Khôn không muốn thêm một người hiểu rõ bản chất con người chàng. Càng không muốn phải tiếp tục đóng kịch. Chàng đã quá mệt mỏi với việc phải đóng nhiều vai diễn trong ngày. Nên đêm về chàng muốn được là chính mình: vô tình, thủ đoạn và hạnh phúc khi được đắm chìm trong những mưu toan thiên biến vạn hóa do mình định sẵn.

Trong thế giới nội tâm phức tạp của Thừa Khôn, những âm mưu toan tính không ngừng đuổi bắt nhau và lộ trình lên ngôi thế tử được vạch ra một cách tinh vi và bài bản. Việc trước mắt chàng cần làm là khơi ngòi mâu thuẫn và khoét sâu thù địch giữa hai thế lực đằng sau thái tử Vinh Tường và Lê Anh. Mục đích cuối cùng là khiến hai bên xung đột sâu sắc mà xao nhãng “chiếu cố” đến chàng. Song song đó, tam hoàng tử sẽ âm thầm tranh thủ cảm tình và sự ủng hộ của các đại thần trong triều để tạo thế lực cho bản thân.

Nghiễm nhiên lúc ấy Thừa Khôn sẽ tọa sơn quan hổ đấu. Mà thường thì lưỡng hổ giao tranh ắt một bị thương, lúc ấy chàng chẳng cần phải lao tâm khổ tứ cũng có thể đối phó với kẻ còn lại một cách dễ dàng. Hãy để cho Vinh Tường và Lê Anh đối phó lẫn nhau còn chàng sẽ tùy cơ ứng biến mà hành sự, ngôi thế tử tất sẽ thuộc về chàng. Nghĩ vậy Thừa Khôn cười thầm khoan khoái. Kể từ giây phút ấy trở đi, giấc mộng đế vương không ngừng nung nấu trong tâm trí tam hoàng tử, thôi thúc chàng thực hiện mưu đồ.

 7. ÂM MƯU VÀ NUỐI TIẾC

               Với suy nghĩ ấy, Thừa Khôn từng bước từng bước củng cố thế lực cho riêng mình. Vô hình trung cục diện trong triều đình ngày càng chia rẽ sâu sắc thành ba phe rõ rệt. Cao quốc cựu và những võ tướng dưới tay thì ủng hộ thái tử Vinh Tường. Các quan văn đứng đầu là thái sư Ngô Trọng Sách tất nhiên hậu thuẫn cho tứ hoàng tử Lê Anh. Còn một số không nhỏ những vị lão thần mà nổi bật là quan ngự sử Trần Phúc Miên thì thiên về Thừa Khôn do bị thuyết phục bởi sự nhân nghĩa đức độ của chàng.

            Dẫu vậy, bằng những mưu chước tinh vi đầy thủ đoạn, Thừa Khôn đã khéo léo tác động để hai phe kia ngày càng mâu thuẫn đối chọi nhau mà xao nhãng việc đối phó chàng. Đó là về phía triều thần, tạm gọi là đối ngoại. Còn riêng đối với hậu cung thì thời gian gần đây Thừa Khôn luôn theo dõi mọi động tĩnh của Cao hoàng hậu và tứ hoàng tử Lê Anh. Để nắm được mọi thông tin liên quan đến cung Phụng Lạc, chàng đã âm thầm đi lại với một thị nữ đang hầu hạ tại đây. Người cung nữ này được giao nhiệm vụ nghe ngóng và báo cáo với chàng mọi nhất cử nhất động của hoàng hậu. Bởi Thừa Khôn hiểu rõ thái tử thực chất chẳng đáng ngại bằng mẫu hậu chàng. Mọi đường đi nước bước của Vinh Tường đều do chánh cung hoàng hậu sắp đặt. Vì vậy người mà tam hoàng tử phải lưu tâm đề phòng chính là mẫu nghi thiên hạ.

            Do vậy Thừa Khôn vờ tỏ ra có tình ý đặc biệt với thị nữ này. Tam hoàng tử dùng lời ngon tiếng ngọt hứa hẹn mai sau sẽ lập nàng làm thứ thiếp để nàng ta hết lòng làm việc cho chàng. Nhờ vậy mà chàng biết được gần đây Cao hoàng hậu thường âm thầm gặp gỡ và bàn chuyện cơ mật với anh trai bà – quốc cựu Cao Kiến Trung. Tuy không thể tường tận chi tiết những mưu tính của chánh cung song Thừa Khôn dễ dàng đoán được mục đích của hoàng hậu. Nhìn thấy sự thất thế của thái tử Vinh Tường so với hai đối thủ, chánh cung tất phải cần đến sự hậu thuẫn của triều thần thông qua thế lực của Cao quốc cựu – người nắm trọng quyền quân sự trong triều.

Ngay sau đó, bằng một cách thức khéo léo và gián tiếp tam hoàng tử đã tạo điều kiện để vua Thế Tôn biết được việc này hầu có đối sách thích hợp đề phòng nhà họ Cao.

Thế nhưng ngoài hoàng hậu ra thì trong cung vẫn còn một người đàn bà khác mà tam hoàng tử Thừa Khôn phải để mắt đến. Người này có phần còn ghê gớm hơn cả hoàng hậu, không ai khác chính là Trịnh phi!

             Và với người đàn bà này thì Thừa Khôn đừng mong dọ thám được gì. Sau khi ở lãnh cung ra, họ Trịnh đã thay đổi hầu hết cung nữ tại Tiêu Dao. Chỉ giữ lại một vài tâm phúc và chọn thêm những người đáng tin cậy. Song song đó Trịnh Phi còn thắt chặt giám sát nên không một thông tin cơ mật nào bị tiết lộ ra ngoài. Do vậy tam hoàng tử khó lòng nắm bắt mọi động tĩnh của cung Tiêu Dao.

Đáng ngại nhất là ánh mắt sắc sảo như đọc thấu tâm tư người đối diện cùng với cách nói chuyện bén ngót như dao của Trịnh phi khiến tam hoàng tử luôn cảm thấy chột dạ mỗi khi tương kiến. Lắm lúc Thừa Khôn cảm tưởng như người đàn bà này nhìn thấu mọi chân tơ kẽ tóc suy nghĩ của mình, khiến chàng mất cả sự tự tin vốn có.

             Trước đây tam hoàng tử vẫn ngỡ rằng chỉ Cao hoàng hậu là cao thủ hậu cung nhưng sau khi Trịnh phi rời lãnh cung thì chàng mới nhận ra người đàn bà này còn cao tay hơn hoàng hậu. Có lẽ những tháng ngày tăm tối bĩ cực đã tôi luyện và hun đúc ý chí của người đàn bà này. Biến bà ta thành một người cứng cỏi và bản lĩnh. Thế nên chỉ trong một thời gian ngắn hồi cung Trịnh phi không những phục hồi lại thế lực trước đây mà còn mạnh mẽ, vững vàng hơn trước.

           Trí tuệ sắc bén kết hợp hoàn hảo với trực giác tinh nhạy giúp người đàn bà này nhìn thấu mặt trái của mọi vấn đề dù là tinh vi nhất. Do vậy chẳng có gì ngạc nhiên khi Lê Anh, dưới sự cố vấn của mẫu thân trở nên ngày càng sắc sảo khiến Thừa Khôn không khỏi kiêng dè.

Không riêng mỗi mình Thừa Khôn thấy được sự lợi hại của Trịnh phi mà tất cả mọi người đặc biệt là Thế Tôn hoàng đế cảm nhận sâu sắc sự đổi thay của ái phi họ Trịnh. Đôi khi Đức kim thượng không khỏi luyến tiếc về một dĩ vãng xa xôi. Cái ngày mà nàng Trịnh Giai Chi mới nhập cung còn hồn nhiên trong trẻo. Không chút mưu toan, không màng danh lợi. Chỉ đam mê những điệu múa mê hồn.

 8. NGỌC TIÊN TỬU KHÚC

Ngày ấy đã xa xưa lắm rồi, Trịnh phi lúc bấy giờ còn là một thiếu nữ ngây thơ vừa nhập cung với danh hiệu tài nhân.

Nhan sắc Trịnh Giai Chi không bút mực nào tả xiết. Vẻ đẹp liêu trai ma mị của nàng có thể làm khuynh đảo tâm can những người đàn ông sắt đá nhất ngay từ cái nhìn đầu tiên. Da nàng sáng mịn xinh tươi, suối tóc mượt nhung bồng bềnh óng ả. Đóa môi hồng mọng căng như quả chín, làn thu ba trong biếc hồ thu. Thân hình nàng tuyệt mỹ với đôi gò bồng đảo căng tràn nhựa sống luôn gọi mời thiên thai.Mỗi bước nàng đi như hoa đua nở, như tiên giáng phàm. Có thể nói nàng chính là một ví dụ hoàn hảo nhất về sắc đẹp. Đặc biệt là mỗi khi nàng múa, những vũ khúc ru hồn vào mộng, say đắm lòng người.

Với thân hình đẹp như tạc tượng ấy cùng sự uyển chuyển, dẻo dai và tài vũ đạo thiên phú, Trịnh Giai Chi thường biểu diễn những điệu múa tuyệt vời cho Thế Tôn ngự lãm. Ví như Nghê Thường vũ y khúc của đời Đường; Ngọc Tiên Tửu khúc của Thiên Trúc; các điệu múa trống của Cao Ly, múa ô của Xiêm La, múa kiếm của người Dao, rồi múa quạt, múa khay… Trong tiếng nhạc rộn rã, đệ nhất mỹ nhân của hoàng cung say sưa múa những vũ khúc thần tiên, khiến Thế Tôn hồn xiêu phách lạc, mê mẩn không thôi.

Đặc biệt với vũ điệu Ngọc Tiên tửu khúc, người đẹp múa cùng hai ly rượu mà nàng đặt tên là rượu Ngọc Tiên. Trong cung chỉ duy nhất mình nàng biết cách pha chế loại rượu cực hiếm này.

Nguyên phụ thân nàng trước đây từng là quan đặc sứ của bổn quốc được giao trọng nhiệm tại nhiều nước lân bang khác nhau như nước Minh, Thiên Trúc, Cao Ly, Nhật Bổn… Do vậy mỗi khi về nước ông đều mang theo những sách hay, kỳ phương, diệu dược, tinh hoa văn hóa xứ người về làm quà cho con gái.

Và trong thời gian làm đặc sứ tại nước Minh ông đã được một bằng hữu tại đây tiết lộ bí quyết pha chế loại rượu độc đáo này. Chỉ cần ngửi thấy mùi vị của rượu thì tinh thần phiêu diêu như lạc vào tiên cảnh, còn nếu uống vào thì lập tức xuân tình rạo rực, mê đắm lâng lâng.

Đặc biệt với loại rượu này, nữ nhân càng uống thì dung nhan càng trẻ đẹp, duy trì xuân sắc. Nam nhân càng uống thì càng dồi dào thể lực, tăng cường bản lĩnh phòng the. Bởi lẽ ngoài các thảo dược quý thường được dùng làm loại rượu “nhất dạ ngũ giao sinh lục tử” như Thục địa, Đào nhân, Sa sâm, Bạch truật, Vân qui, Phòng phong, Bạch thược, Xuyên khung, Nhục thung dung, Tần giao, Tục đoạn, Mộc qua Kỷ tử, Đại hồi, Nhục quế, Cát tâm sâm… thì rượu Ngọc Tiên còn có chứa xạ hương và đặc biệt là tuyết giáp, còn gọi là “thú nhân sâm” – một bí phương ít người biết được.

Tuyết giáp vốn là lớp màng nhầy trong buồng trứng con nhái tuyết cái. Loài nhái tuyết sống ở tỉnh Đông Bắc trong dãy núi Trường Bạch Sơn ở nước Minh. Để tồn tại ở miền cao, nhái tuyết phải có sự chịu đựng tuyệt vời trước cái rét kinh người. Vào đầu mùa đông hàng năm, chúng cố tích tụ thật nhiều dưỡng chất vào cơ thể. Điều này giúp nhái tuyết dự trữ nhiên liệu cho giấc ngủ đông và nuôi dưỡng mầm sống mới bắt đầu vào mùa xuân.

Khi mùa xuân đến những người nông dân sống quanh đó đi bắt nhái vì lúc này những con nhái tuyết qua thời kỳ dài ngủ đông chúng hoạt động chậm chạp, nên rất dễ bắt, thích hợp cho việc lấy lớp màng tuyết giáp. Được giới y học xưng tụng là “vàng mềm”, tuyết giáp là một loại thực phẩm có công dụng bồi bổ khí huyết, bổ sung dưỡng chất làm đẹp, giúp tươi nhuận làn da. Đặc biệt tuyết giáp còn nổi tiếng về khả năng tăng cường chất lửa trong quan hệ lứa đôi vì có chứa một số lượng lớn các kích thích tố hữu ích cho con người…

Lại nói sau khi học được bí quyết pha rượu của cha, Giai Chi lập tức kết hợp với vũ điệu Người ngọc chuyền ly rượu của người Bà-la-môn và đổi tên thành Ngọc Tiên tửu khúc. Mặc dù vẫn dựa trên những động tác nguyên thủy của điệu múa xứ Thiên Trúc song nàng còn sáng tạo thêm những động tác vô cùng đẹp mắt làm say đắm lòng người.

Dầu hai tay phải cầm hai chén rượu múa liên tục hàng trăm động tác khác nhau trong suốt vũ điệu nhưng nàng đã khéo léo đến mức rượu không hề rơi ra một giọt. Đến cuối bài múa, nàng dâng chén rượu vẫn còn đầy mời Thế Tôn hưởng dụng. Rượu óng ánh màu hổ phách, ngọt thơm nồng nàn khiến người uống ngây ngất đê mê. Đôi khi không có ai người đẹp còn cao hứng ngụm rượu vào môi rồi kề miệng quân vương rót vào tình tứ.

Ôi chao, đối với các bậc quân vương thì còn lạc thú nào tuyệt diệu hơn thế nữa: ngắm người ngọc múa điệu mê ly, uống rượu ngon trên môi thơm ngát và cuối cùng hưởng lạc bồng lai.

Rượu ngon từ miệng ngát thơm

Mỹ nhân rót tặng quân vương phiêu bồng

 9. TAI BAY VẠ GIÓ

Kể sao cho hết sự đắm say và sủng ái mà Thế Tôn hoàng đế dành cho Trịnh tài nhân. Thế nên chẳng có gì khó hiểu khi chỉ trong một thời gian ngắn Giai Chi đã một bước lên phi. Từ tài nhân nàng được thăng phong làm chiêu nghi, rồi đến quý phi. Cao hơn cả phẩm cấp hoàng phi của Đặng Tuyết Hân, chỉ còn thua mỗi chánh cung hoàng hậu.

Cũng từ đây thâm cung nổi sóng ba đào, thị phi không ngớt ào ào bên tai. Thế Tôn hoàng đế bắt đầu nghe thấy lời ong tiếng ve xằng tấu về nàng. Nào là Trịnh phi trà trộn vào cung để hoạt động nội gián cho nước Minh. Nào là Trịnh phi bí mật dùng bùa ngãi mê hoặc Đức kim thượng. Nào là có người đích mắt trông thấy hồ ly xuất hiện tại cung Tiêu Dao. Có thể nói khoảng thời gian này khói đen ghen tức cuồn cuộn bao trùm cả hậu cung.

Song sự si mê của Thế Tôn hoàng đế đã vượt lên trên tất cả. Bất chấp mọi dị nghị dèm pha, hoàng thượng vẫn gạt bỏ ngoài tai và lại càng tỏ ra sủng ái Giai Chi hơn. Dường như thấy những lời đồn đãi vô căn cứ không mấy tác dụng nên thị phi dần lắng xuống và im ắng suốt một thời gian dài sau đó. Ngỡ đã trời quang mây tạnh, biển lặng sóng yên, ngờ đâu đó lại là dấu hiệu chuẩn bị cho một cơn bão tố kinh hoàng khó lòng thoát khỏi.

Một ngày nọ, cấm vệ quân tại cửa Ngọ Môn phát hiện một tên thái giám thuộc cung Tiêu Dao có dấu hiệu khả nghi, thậm thò thậm thụt tại cổng thành khi đêm xuống bèn vây bắt. Khi khám xét trong người hắn thì phát hiện một phong thư viết bằng Hán tự có đóng dấu ngọc ấn của Trịnh phi. Tên quân giữ thành bèn trình báo với Phiêu kỵ thượng tướng quân – chính là Cao quốc cựu, anh trai hoàng hậu. Cao Kiến Trung lập tức đem nhân chứng và vật chứng đến trình diện Thế Tôn hoàng đế. Trong cung chỉ một số rất ít nữ nhân biết viết Hán tự trong đó có Trịnh phi, do cha nàng truyền dạy. Và Giai Chi vẫn thường làm thơ phú bằng Hán tự nên Đức kim thượng không lạ gì nét chữ nàng.

Vì vậy ngay khi vừa đọc bức thư Đức kim thượng đã nhận ra đúng là nét chữ của Giai Chi. Nội dung trong thư nói nàng đã mê hoặc được Thế Tôn hoàng đế và sẽ ngày càng khiến ngài đắm mê nữ sắc, xao nhãng quốc sự. Nàng còn nguyện một ngày gần đây sẽ làm nội ứng giúp quân Minh đánh chiếm nước nhà. Ngoài ra, đính kèm với bức thư còn có một bức địa đồ bổn quốc được họa rất chi tiết. Thế Tôn bèn lập tức tra khảo tên thái giám của Trịnh phi thì hắn khai đã thừa lệnh chủ nhân liên lạc thư từ với nước Minh nhiều lần. Hoàng thượng tức tốc đến cung Tiêu Dao khám xét. Tại đây sau khi bị tra khảo một cung nữ đã khai rằng y thị từng có lần nhìn thấy Trịnh phi lén lút giấu thư từ trong một vách tường sau bức hoành phi tại thư phòng. Thế Tôn hoàng đế bèn cho người đến đó lục soát. Và khi quân sĩ tháo những viên gạch trên vách tường sau bức hoành phi thì quả nhiên phát hiện khá nhiều thư từ của nước Minh gởi cho Trịnh phi được giấu ở đây.

Chứng cứ rành rành khiến Thế Tôn không muốn tin cũng không được. Hoàng thượng nổi trận lôi đình và mặc Trịnh phi một mực kêu oan, ngài vẫn ra lệnh tống giam nàng vào lãnh cung. Xem như ân huệ cuối cùng thay cho cái chết. Thực ra với tội phản quốc thì không những nàng mà cả tam tộc họ Trịnh đều phải bị tru di. Thế nhưng nghĩ tình phu thê ân ái bao năm nên hoàng thượng đã khoan thứ cho cả nhà nàng bất kể hoàng hậu và Hân phi hết lời tác động. Riêng tên thái giám đưa tin thì ngài ra lệnh xử tử. Việc hành hình được giao cho Cao quốc cựu thực hiện. Nhưng thực tế y có hành quyết hắn hay không thì chỉ có trời mới biết.

Thoạt đầu Giai Chi không tài nào đoán được căn nguyên của những tai họa từ trên trời rơi xuống này. Tuy nhiên sau khi bị tống giam một thời gian nàng tĩnh tâm nghiền ngẫm, phân tích cặn kẽ và xâu chuỗi tất cả chi tiết liên quan. Cuối cùng cũng đã đoán được những ai đứng sau âm mưu này. Tên thái giám đưa thư trước đây từng phụng sự tại cung Chiêu Loan. Sau đó chẳng hiểu vì lý do gì mà được điều chuyển đến cung nàng. Còn cung nữ đã khai nơi giấu mật thư lại là Hạnh Ngân – con gái của nhũ mẫu thái tử. Nghĩa là tâm phúc của hoàng hậu.

Theo suy đoán của Giai Chi thì chính thị nữ này đã bí mật trộm bút tích của nàng để hoàng hậu cho người giả mạo đồng thời lấy ngọc ấn của nàng đóng dấu vào bức thư kia. Và động tác cuối cùng y thị thực hiện là dấu những bức thư ngụy tạo của nước Minh vào vách tường sau bức hoành phi mà ngay cả Giai Chi cũng không hề biết. Tất cả chỉ là một âm mưu hiểm độc, một thủ đoạn đê hèn quyết đẩy nàng vào chỗ chết.

Khi tất cả chân tướng sự thật đã phơi bày trước mắt thì Giai Chi hết sức bàng hoàng và căm hận. Nàng tự hỏi mình đã làm gì cơ chứ để phải gặt lấy thảm cục này. Nàng đã bao giờ hại đến ai, cũng chưa hề tơ hào quyền lực. Thậm chí nàng chưa từng đòi hỏi Thế Tôn hoàng đế ban phong tước vị. Tất cả đều do hoàng thượng tự ý ban cho. Vậy mà trước giờ nàng vẫn hồn nhiên tin rằng mình không hại người thì người cũng sẽ không hại mình, xem ra nàng đã quá ngây thơ. Sắc đẹp và sự sủng ái mà nhà vua dành cho nàng luôn ẩn chứa nguy cơ đe dọa vị trí của người khác. Và việc người ta tiên hạ thủ vi cường là điều tất yếu khó lòng tránh khỏi.

Điều may mắn duy nhất khiến nàng cảm thấy đôi chút an ủi là con trai mình – tứ hoàng tử Lê Anh – đã được Huệ Như cứu thoát ngay trong đêm nàng bị tống giam.

Chốn lãnh cung lạnh lẽo và ẩm thấp do thiếu ánh nắng, mạng nhện giăng đầy bởi không ai quan tâm quét dọn. Và những phi tần hoặc bị thất sủng hoặc phật ý vua bị tống vào đây chẳng còn thiết sống, suốt ngày vật vờ như những hồn ma. Không gian đặc quánh mùi ẩm mốc. Âm khí bao trùm. Nụ cười vắng bóng. Chỉ có tiếng khóc than ai oán, tiếng lảm nhảm của những người mà thần trí đã u mê vì bị bào mòn theo tháng năm hòa quyện cùng tiếng đàn buồn nỉ non u uất… Tất cả tạo nên một khung cảnh thảm não khiến mỗi ngày tại đây bức bối và lê thê bất tận như một năm dài.

Mỗi ngày hai lần nội giám mang cơm đến cho mọi người. Những phần cơm đạm bạc khô khốc chẳng tài nào nuốt được. Không rượu không trà, không luôn bánh trái. Việc tắm giặt cũng phải tự mình xách nước giếng sâu, chẳng có lấy một người hầu hạ như trước kia. Thế nên ngày càng nhiều phi tần tại đây héo mòn mà chết. Riêng Giai Chi vẫn kiên gan đến cùng, nàng phải thoát thân bằng mọi giá. Nàng phải sống để rửa mối oan này. Phải lấy lại tất cả những gì đã mất. Và trên hết nàng phải sống vì cuộc sống của con mình, Lê Anh hoàng tử. Đó chính là động lực mạnh mẽ nhất giúp nàng vượt qua số phận.

Bên cạnh đó Giai Chi còn một liệu pháp tinh thần hữu hiệu khác. Ấy là mỗi khi tuyệt vọng người đẹp lại tự động viên mình bằng những lời thuyết pháp của một vị cao tăng mà nàng từng có dịp được nghe thuở còn niên thiếu. Vị sư ấy từng thuyết rằng kiếp người là những chuỗi trầm luân như hai cực âm dương trên vòng tròn lưỡng nghi. Sẽ có lúc thăng lúc trầm, lúc lên lúc xuống. Khi xuống có thể đến tận cùng thống khổ song đến khi lên sẽ có lúc đến đỉnh điểm huy hoàng. Nàng tin rằng hết cơn bỉ cực sẽ đến hồi thái lai. Bóng đêm tai ách hôm nay đến một lúc nào đó sẽ phải rút lui nhường chỗ cho ánh bình minh rực rỡ. Như người xưa vẫn nói rằng Ví không có cảnh đông tàn, thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân.

Để đạt được điều đó thì nàng phải giữ vững tinh thần sáng suốt và quan trọng hơn là phải gìn giữ được vũ khí lợi hại nhất của nàng: nhan sắc vô song. Hơn ai hết Giai Chi hiểu rõ một điều, còn sắc đẹp là còn tất cả. Vì vậy mỗi ngày nàng đều chăm chỉ luyện rèn những bí quyết dưỡng sinh của người Thiên Trúc mà cha nàng từng truyền dạy trước đây. Những thức tập mà hàng trăm năm về sau người ta gọi là Yoga – bí quyết tịnh dưỡng tinh thần, cân bằng cảm xúc đồng thời giúp duy trì và kéo dài xuân sắc. Và sự nhẫn nại kiên trì luyện tập những thức tập này đã trả công cho nàng một cách xứng đáng. Nhan sắc nàng vẫn tươi đẹp trẻ trung như thuở nào thậm chí còn có phần mặn mà hơn trước bất chấp khổ não và thời gian.

Trải qua ngần ấy thời gian chịu đựng vất vả và kiên trì khổ luyện Giai Chi dần học được cách đương đầu với mọi thử thách. Nàng tự hứa với lòng phải cứng cỏi hơn, mạnh mẽ hơn để đối phó và đáp trả kẻ thù. Nàng cho đó là tự vệ. Nàng đúc kết một chân lý cho riêng mình “Nương tay với kẻ thù có nghĩa là tự sát”. Chính vì những suy nghĩ chất chứa hận thù ấy mà nàng dần thay đổi tâm tính. Từ một người hiền lành thuần hậu ban đầu thoắt trở nên mưu mô, lạnh lùng và vô cảm.

Rõ là:

Nuôi hận thù bằng những ức oan

Nên mưu sâu vươn mình thức dậy

Trong suốt bảy năm đằng đẵng, Giai Chi đã tận dụng mọi cơ hội có thể để mua chuộc thái giám tìm cách đưa thư cho Thế Tôn hoàng đế song đều thất bại. Tất cả thư từ nàng gởi đều một đi không trở lại, hoàn toàn không nhận được hồi âm bởi lẽ đều rơi vào tay Cao hoàng hậu.

Cho đến ngày kia, nàng chỉ còn một trang sức quý giá cuối cùng trên người. Nàng nhìn xuống chuỗi ngọc lục bảo trân quý trên cổ và sực nghĩ tới những chĩnh rượu Ngọc Tiên vẫn được cất giấu tại ngự thiện phòng của cung Tiêu Dao. Đây sẽ là cơ hội thoát thân cuối cùng của nàng.

 10. NỮ TU VÀO CHỐN THÂM CUNG LÀM GÌ

Lại nói về phần Thế Tôn hoàng đế, kể từ lúc tống giam Trịnh phi thì cảm thấy trống trải vô cùng. Không ít lần Đức kim thượng tưởng nhớ đến những vũ điệu tuyệt đẹp mê hồn của người ngọc. Nhớ vị rượu thơm nồng khoái cảm. Nhớ giai nhân ngọt ngào bên gối. Nhớ ái ân rạo rực thiên đàng.

Là thiên tử nên quanh hoàng thượng không thiếu hàng trăm phi tần mỹ nữ khát khao hầu hạ. Song không phải ai cũng đặc biệt như giai nhân họ Trịnh. Vẻ đẹp khuynh thành của nàng thì khỏi phải bàn thêm. Nhưng điều đáng chú ý hơn chính là ở nàng luôn toát ra một vẻ quyến rũ chết người không ai sánh được khiến Thế Tôn mê mệt điên cuồng.

Song cứ mỗi lúc tưởng nhớ đến nàng thì hoàng thượng lại không nén được nỗi căm hận khi nghĩ đến việc Giai Chi đã phản bội ngài. Không phải duy nhất một lần này mà những đến hai lần. Lần đầu tiên đã xảy ra khá lâu rồi. Thế Tôn biết tất cả song không muốn vạch trần tội lỗi của nàng. Vì nếu làm lớn chuyện thì chẳng những Giai Chi chắc chắn khó thoát khỏi tội chết mà Thế Tôn cũng sẽ mất đi người em trai duy nhất của mình. Do vậy, hoàng thượng đã chọn cách xử trí kịp thời êm đẹp tránh để cho sự việc phơi bày. Một giải pháp khôn ngoan hiệu quả, vẹn cả đôi đường, không ai hay biết. Nhưng cũng vì việc phản bội này mà trái tim hoàng thượng đã hằn một vết thương, thỉnh thoảng lại nhói đau âm ỉ. Tuy nhiên theo thời gian vết thương trong lòng ngài mờ nhạt dần và Thế Tôn dần dà nguôi ngoai chuyện cũ.

Những tưởng quá khứ đã ngủ yên ngờ đâu lần này Giai Chi lại một lần nữa phản bội ngài. Thậm chí còn phạm vào một trọng tội khác tày đình hơn, khiến Thế Tôn không thể tiếp tục nhắm mắt làm ngơ. Tội phản quốc nếu với người khác thì hoàng thượng đã kết tội tru di tam tộc. Song với ái phi họ Trịnh ngài lại không đành tâm thẳng tay trừng trị. Thực chất Thế Tôn không phải là một người nhu nhược mà ngược lại ngài là người cứng rắn thậm chí đôi khi sắt đá vô cùng. Song cũng bởi ngài đã quá yêu nên không nỡ xuống tay với người từng đầu ấp tay gối cùng mình suốt mấy năm qua. Thế nên hoàng thượng đã nương tay mà tha cho nàng một con đường sống. Bằng cách tống giam Giai Chi vào lãnh cung, Thế Tôn muốn nàng phải sống mỏi mòn đau khổ suốt phần đời còn lại để nghiền ngẫm và sám hối những tội lỗi của mình.

Song song đó, hoàng thượng tìm mọi cách để nhanh chóng quên nàng. Ngài lần lượt tìm vui với những phi tần khác của tam cung lục viện. Cao hoàng hậu cũng mong muốn xóa sạch hình ảnh Trịnh phi trong đầu Thế Tôn nên đã tuyển thêm thật nhiều giai nhân mỹ nữ vào cung để hoàng thượng quên bẵng người xưa. Trong số các người đẹp này thì nổi bật nhất phải kể đến tài nhân Phan Quỳnh Thơ.

Nàng Quỳnh Thơ có vẻ đẹp thanh khiết như sương. Đôi mắt trong veo biết nói. Đôi môi xinh mọng đỏ. Làn da trắng ửng hồng. Cơ mặt nàng linh hoạt với làn môi khá mẫn cảm, mỗi khi cười thường khẽ mấp máy nom thật đáng yêu. Dáng người nàng thanh mảnh thắt đáy lưng ong, phong thái thanh tao bước đi yểu điệu. Đặc biệt Phan tài nhân có chất giọng ngọt ngào êm ái mỗi khi cất tiếng như họa mi thánh thót ru người.

Trên hết là vẻ đẹp thánh thiện của tâm hồn nàng mà hiếm vị phi tần nào có được. Là người giàu lòng thương yêu, chân thành và đa cảm, Quỳnh Thơ luôn đối đãi tử tế và chan hòa với tất cả mọi người xung quanh, ngay cả với kẻ hầu người hạ. Ở nàng luôn toát ra sự nhân ái dịu dàng, như một hạt sương tinh khiết hiếm hoi trong thế giới nội cung đầy mưu mô tăm tối. Thoạt đầu, với sự đa nghi cố hữu, những con người lọc lõi tại đây đều cho rằng nàng khoác lên người một lớp áo đẹp đẽ chẳng qua chỉ để thu phục nhân tâm. Song theo thời gian tất cả đều nhận ra đó là con người thật của nàng, tuyệt nhiên không chút giả tạo.

Phan tài nhân còn là một nữ lưu kỳ tài trong thiên hạ. Nàng làu thông kinh sử lại am tường nhạc họa thơ ca. Đặc biệt Quỳnh Thơ cực kỳ yêu thích âm nhạc và tại điện Vô Ưu nơi nàng làm chủ luôn có tiếng nhạc reo vui, tiếng cười rộn rã, tiếng chim hót líu lo. Sức sống và niềm vui luôn tràn ngập nơi đây. Khác biệt hoàn toàn những cung điện im ắng trầm mặc khác. Vì thế Đức kim thượng rất thích và thường xuyên đến điện Vô Ưu để cùng nàng chơi cờ thưởng nhạc, đối ẩm bình thơ.

Tuy nhiên mọi việc chỉ dừng ở đó. Vì khi đêm về hoàng thượng lại rời điện Vô Ưu và ngự giá đến một cung hoặc viện khác. Đó cũng chính là lý do vì sao nàng Phan Quỳnh Thơ được cho rằng “vô hại” đối với hoàng hậu và những vị hoàng phi khác, thoát khỏi sự ghen tuông vô lối của nhi nữ thường tình.

Nguyên do khá dễ hiểu bởi vì không giống hầu hết các phi tần mỹ nữ luôn khát khao ơn mưa móc của Thế Tôn, nàng Quỳnh Thơ là một người khá kỳ lạ, rất thờ ơ với việc gối chăn. Dường như việc học rộng hiểu cao đã khiến nàng trở nên thuần khiết và đoan trang quá mức. Đến độ xem việc mây mưa là một điều gì đó hoen ố, vẩn đục thậm chí xấu xa. Do vậy nàng luôn cảm thấy ngượng ngùng, không thoải mái mỗi khi phụng sự hoàng thượng.

Bởi thế mà chỉ trong đêm đầu tiên cùng nàng, vua Thế Tôn đã hiểu thế nào là cảm giác ôm một bông hoa đẹp không biết rung rinh là gì. Hoa đẹp hoa thơm nhưng bất động. Liệu có đấng trượng phu nào thích ôm hoa mà ngủ thâu đêm? Quỳnh Thơ quá đoan trang nên việc phòng the đối với nàng gần như là một sự miễn cưỡng. Thế nên mỗi khi Đức kim thượng sủng hạnh nàng lại trân mình chịu đựng, chẳng mấy thiết tha hưởng ứng. Sự thờ ơ lãnh đạm của nàng khiến hoàng thượng mau chóng lụi tắt lửa tình. Ngài thất vọng tự thán với lòng: “Hồng sen nở giữa đầm bùn, nữ tu vào chốn thâm cung làm gì”.

Từ đó về sau Thế Tôn hoàng đế cũng không thiết tha chăn gối với nàng nữa.

Thế nhưng hoàng thượng dù sao cũng vẫn là người phàm. Thậm chí còn phàm tục hơn cả người phàm tục. Vì ngài là có quyền uy tối thượng của một bậc đế vương. Cũng như đại đa số những người đàn ông khác, Thế Tôn hoàng đế chỉ thật sự hứng thú gối chăn với những giai nhân lão luyện loan phòng. Càng không biết e thẹn, càng chủ động gợi tình, càng khát khao mời gọi, càng bạo liệt gối chăn thì nhà vua lại càng đắm say mê mệt. Và đó lại là thế mạnh của Trịnh phi, là ưu điểm thứ hai sau sắc đẹp tuyệt trần của nàng khiến Thế Tôn luôn mê đắm và khó dứt bỏ hình ảnh nàng trong tâm khảm.

Thế rồi một ngày kia, trong một buổi tiệc rượu tại điện Vô Ưu, một tên thái giám đã dâng lên hoàng thượng loại rượu mà đã nhiều năm rồi ngài chưa được uống.

Và chỉ cần ngửi qua thôi Thế Tôn hoàng đế lập tức ngự giá đến lãnh cung.

 11. THIÊN ĐƯỜNG NƠI ĐỊA NGỤC

Trái ngược hoàn toàn với vẻ tráng lệ của điện ngọc cung son, lãnh cung trước mắt Thế Tôn tăm tối thê lương hơn cả hình dung của hoàng thượng. Dọc theo các vách tường rêu bám lâu năm tạo thành từng mảng, từng mảng đen sần, đặc quánh màu thời gian. Giăng mắc trong không gian một giọng ca buồn thảm não của vị phi tần nào đó mà Đức kim thượng thậm chí chẳng còn nhớ rõ họ tên cũng như lý do vào đây. Giọng ca ai oán đó như đuổi theo níu kéo hoàng thượng khi ngài rảo gót tìm đến nơi ở của Trịnh phi. Phía trước hoàng thượng là hai thái giám cầm đèn lồng soi sáng, theo chân ngài là các thị nữ và thị vệ theo hầu.

Có khá nhiều gian phòng được bố trí san sát nhau. Riêng gian phòng dành cho Trịnh phi thì gần như ở vị trí tận cùng và chật hẹp nhất tại đây. Bởi đó là sự sắp đặt của Cao hoàng hậu dành cho tình địch không đội trời chung của bà.

Vừa mở cánh cửa ọp ẹp của gian phòng thấp bé này, một khung cảnh tối tăm hiện ra khiến Đức kim thượng không khỏi động lòng trắc ẩn khi tận mắt chứng kiến cuộc sống khắc khổ của Giai Chi. Khắp căn phòng chẳng có gì đáng giá ngoài một một chiếc rương đựng y phục đã sờn lớp mạ vàng bên ngoài đặt tại góc phòng.Một chiếc giường bằng loại gỗ rẻ tiền và đối diện là một chiếc gương bằng đồng đã hoen ố. Mọi thứ đều cũ kỹ và sực mùi năm tháng. Dường như tất cả những gì mà hoàng cung không dùng nữa đều được đưa đến lãnh cung, và những gì xấu xí nhất của lãnh cung thì đều được đặc biệt “ưu ái” cho gian phòng này.

Song, đối lập hoàn toàn với khung cảnh nhếch nhác đó là một giai nhân đẹp tuyệt trần và vẫn tươi trẻ hệt như tuổi đôi mươi khiến Thế Tôn không khỏi giật mình kinh ngạc. Trong khi ấy thì Giai Chi mừng đến thắt tim. Đúng như dự đoán của nàng, hoàng thượng cuối cùng đã đến, nghĩa là cơ hội thoát thân của nàng sắp trở thành hiện thực.

Để chuẩn bị cho cuộc gặp quan trọng này, ngay từ buổi chiều, Giai Chi đã dùng những bộ y phục còn mới của nàng đánh đổi những món làm đẹp nữ giới thường dùng của các cung phi mới vào lãnh cung. Trước khi hoàng hôn buông xuống, nàng tắm gội thật lâu với nước thơm để mùi hương quyến rũ ấy thấm sâu vào làn da óng mượt. Rồi sau đó nàng khoác lên người một bộ y phục màu vàng nhạt bằng lụa mỏng, để lộ thấp thoáng cơ thể căng đầy của người đàn bà đang vào độ chín. Kế đến nàng vấn cao mái tóc mượt dày, cài lên tóc một chiếc trâm bằng hổ phách tuy chẳng đáng giá gì song cũng giúp điểm xuyết cho gương mặt nàng thêm duyên dáng. Cuối cùng nàng thoa một lớp son mỏng cho môi thêm mọng, một chút phấn cho má ửng hồng. Chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ để nhan sắc nàng tỏa rực.

Xong đâu đó Giai Chi tự ngắm mình trong gương. Mỉm cười hài lòng và chờ đợi. Tâm trạng của nàng lúc này thật là xáo trộn. Vừa hy vọng nao nức lại vừa hồi hộp lo âu khi thời gian dần trôi qua ô cửa sổ, bóng đêm đã ngự trị cõi nhân gian khá lâu rồi. “Người ấy liệu có đến hay không?” câu hỏi ấy vang lên trong đầu nàng không biết bao lần mà vẫn chưa nhận được lời đáp. Có chăng chỉ là tiếng hát ai oán quen thuộc từ xa văng vẳng lại khiến nàng suýt khóc theo vì tuyệt vọng.

Đột nhiên, cửa bật mở. Giây phút nàng trông đợi nhất cũng đã đến. Nhân vật uy quyền tột bực kia giờ đây đang đứng ngay ngưỡng cửa, nhìn nàng trân trân không chớp mắt. Thoạt trông thấy hoàng thượng, Giai Chi sững người, tim nàng như ngừng đập. Song chỉ giây lát sau nàng đã nhận ra hình ảnh trước mắt là thật, bất giác nước mắt nàng lã chã tuôn rơi không ngừng được. Ngay lập tức nàng sà đến ôm chân Thế Tôn mà thổn thức:

–          Bệ hạ, thiếp đã mòn mỏi chờ đợi người suốt bảy năm rồi. Những tưởng người đã quên thiếp, nhưng cuối cùng người cũng đã đến đây. Nghĩa là người vẫn còn nghĩ đến thiếp, đúng không bệ hạ nói đi?

Chứng kiến tình cảnh đáng thương của nàng, trái tim hoàng thượng se thắt lại. Thế Tôn những muốn ôm nàng vào lòng vỗ về an ủi nhưng cơn hận trong lòng lại trỗi lên mạnh mẽ khiến ngài cố kìm lòng mà tỏ ra lạnh lùng sắt đá:

–          Ngươi muốn quả nhân phải nói gì bây giờ? Trẫm đối với ngươi như thế nào? Chẳng phải trẫm đã cho ngươi tất cả: phú quý vinh hoa, quyền uy tột đỉnh, và cả trái tim của trẫm. Vậy mà ngươi “thân tại phúc tâm bất tri phúc”, lại còn đang tâm muốn dâng cả giang san của trẫm cho ngoại quốc. Ngươi vẫn còn mặt mũi gặp trẫm hay sao?

  • Xin bệ hạ hãy bình tâm mà kiên nhẫn lắng nghe thiếp nói một lần này thôi. Bằng không thiếp nguyện chết ngay tại đây để tỏ dạ trung thành đối với người và non sông.

Đức kim thượng thở dài:

  • Ngươi nói đi, trẫm cho ngươi một cơ hội cuối.
  • Xin bệ hạ thánh minh suy xét. Nếu thiếp có gan to bằng trời dám làm nội gián cho nước Minh thì liệu thiếp có xuẩn ngốc đến mức lưu giữ những bằng chứng, thư từ của họ khi mà thiếp đã nắm rõ nội dung? Nếu là bệ hạ, người có làm thế không, hay người sẽ tiêu hủy ngay lập tức?

Thế Tôn ngẩn người ra nghĩ ngợi, thấy vậy Trịnh phi lại tiếp lời:

  • Hơn nữa, cho rằng giả sử thiếp muốn lưu giữ lại thư từ, thì có lý nào thiếp lại sơ suất đến mức để con thị nữ Ngân Lan trông thấy nơi cất giấu? Lẽ nào thiếp muốn chết? Mà y thị lại là con ruột của nhũ mẫu thái tử Vinh Tường, sao lại có việc trùng hợp lạ lùng đến thế? Nếu bệ hạ nghi hoặc những gì thiếp nói thì xin người hãy điều tra ngay ngày mai để làm sáng tỏ mọi việc!

Hoàng thượng trầm ngâm không đáp. Có vẻ như người đã bắt đầu nhìn nhận được vấn đề. Trịnh phi lại thao thao bất tuyệt:

  • Chưa hết, tại sao tên thái giám đưa thư giúp thiếp lại vụng về đến mức để lọt vào tay Cao quốc cựu, anh ruột của hoàng hậu, trong khi theo lời hắn khai thì đã từng đưa thư đến nước Minh trót lọt nhiều lần trước đây? Còn nữa, hắn trước đây từng là thái giám phụng sự tại cung Chiêu Loan suốt một thời gian dài trước khi được Hân phi tặng cho thiếp. Liệu có sự sắp đặt gì ở đây chăng?
  • Nhưng lẽ nào hắn cam tâm hy sinh mạng sống chỉ để thực hiện âm mưu này? – Thế Tôn bán tín bán nghi.
  • Hắn không cam tâm phạm tội chết, song hắn cũng thừa biết nếu không phụng mệnh thi hành thì cũng sẽ bị thủ tiêu diệt khẩu phòng hậu họa. Hơn nữa nếu chủ hắn cam đoan giữ mạng và trọng thưởng cho hắn thì sao? Bệ hạ có nghĩ đến khả năng Cao quốc cựu hành quyết một phạm nhân vô danh nào đó thế mạng cho hắn rồi để hắn cao chạy xa bay chăng?
  • Điều gì đã khiến nàng trở nên đa nghi và sắc bén như vậy? – Thế Tôn tỏ ra bất ngờ.
  • Bảy năm nghiền ngẫm mọi việc tâu bệ hạ. Nếu phân tích thấu đáo người sẽ thấy những điều thiếp nói là hoàn toàn có cơ sở chứ không phải chỉ là võ đoán đa nghi.
  • Nàng nói có lý

Chỉ đợi câu nói này, Trịnh phi liền đi đến kết luận một cách quả quyết:

  • Nếu bệ hạ thánh minh suy xét sẽ nhận ra chân tướng của tất cả những sự việc này. Đây rõ ràng là một âm mưu hiểm độc được chuẩn bị vô cùng tinh vi và thấu đáo để hại thần thiếp. Mà người đứng sau thủ đoạn bỉ ổi này không ai khác chính là Cao hoàng hậu, Cao quốc cựu và Hân phi Đặng Tuyết Hân.

Trước những lý lẽ sắc bén và hết sức hợp lý của Giai Chi, Thế Tôn hoàn toàn bị thuyết phục. Hoàng thượng đăm chiêu nghĩ ngợi rồi buông tiếng thở dài. Trịnh phi thấy vậy quỳ xuống ôm chân ngài tức tưởi:

  • Bệ hạ ôi, người hãy nghĩ xem thiếp có động cơ gì mà phản bội người kia chứ. Người đã cho thiếp tất cả: ơn mưa móc bao la trời biển, danh phận quý phi trên cả vạn người. Phú quý vinh hoa chẳng thiếu thứ gì, lại thêm một hoàng tử khôi ngô mẫn tuệ. Sau này nếu con trai thiếp không được kế vị thì cũng sẽ được phong vương, thử hỏi thiếp còn đòi hỏi gì hơn thế chứ?

Đức kim thượng lúc này đã hoàn toàn tin tưởng Giai Chi nên tỏ ra ân hận vô cùng. Một cách dịu dàng, ngài cúi người xuống nâng cằm Trịnh phi, dùng tay lau nước mắt đang chảy dài trên má nàng rồi nhẹ nhàng an ủi:

  • Tội nghiệp cho ái phi. Trong cơn nóng giận nhất thời quả nhân đã không suy xét kỹ, hại nàng oan ức bảy năm trường!

Giai Chi vẫn chưa thôi tấm tức:

  • Nếu thiếp có manh tâm phản bội ngài thì thiếp được gì, con trai thiếp liệu có được phong vương? Thiếp có được phong phi? Hay là thiếp sẽ mất tất cả và trở thành kẻ thù của muôn dân trăm họ?

Thế Tôn nghe vậy vội cắt ngang lời nàng:

  • Đừng nói nữa, trẫm đã hiểu tất cả rồi. Những lời của ái phi lúc này như ngàn mũi dao cứa nát ruột gan trẫm, chẳng nhẽ nàng muốn trẫm phải đối mặt với sự cạn nghĩ trong quá khứ của mình?
  • Nếu vậy thiếp không dám nhắc đến chuyện đó nữa. Chỉ cần bệ hạ hiểu rõ nỗi oan của thiếp là được rồi.

Đoạn nàng rúc mặt vào lòng Thế Tôn nũng nịu:

  • Trong suốt bảy năm ròng rã thiếp nhớ thương bệ hạ da diết vô cùng. Trong khi đó người lại lạnh lùng không hề đoái hoài tơ tưởng đến thiếp, lẽ nào người đã có những niềm vui mới nên quên thiếp rồi chăng?

Đức kim thượng nắm lấy bàn tay nhỏ nhắn của nàng đặt lên môi và khẽ hôn nhẹ:

  • Nếu quả nhân không nhớ nàng thì đã chẳng đến đây đêm nay. Thôi được, ngay sáng mai trẫm sẽ hạ chỉ phóng thích và phục vị cho nàng trở lại làm quý phi như trước đây, nàng hài lòng chưa?

Giai Chi nghe như mở cờ trong bụng liền mừng rỡ cúi lạy tạ ơn:

  • Thiếp xin tạ ơn bệ hạ. Còn… việc hoàng hậu với Hân phi vu hại thiếp bệ hạ định liệu thế nào?

Thế Tôn thở dài khuyên nhủ:

  • Riêng việc này quả nhân khuyên nàng hãy nhẫn nhịn bỏ qua. Bởi sự việc xảy ra đã lâu rồi, tất cả tang chứng chúng đều đã xóa hết. Ngay cả thị nữ Ngân Lan cũng đột nhiên biến mất sau việc đó. Chẳng còn gì để đối chứng minh oan cho nàng. Hơn nữa trẫm không muốn bứt dây động rừng vì hiện nay thế lực của hoàng hậu và Cao quốc cựu rất lớn. Việc phanh phui mọi chuyện vào lúc này sẽ khiến chúng cùng đường làm phản, chỉ có hại mà không có lợi cho ta, nàng có hiểu chăng?
  • Bệ hạ sáng suốt, thiếp thần xin nghe.

Đức kim thượng đẹp lòng ôm ghì lấy nàng vuốt ve âu yếm:

  • Lâu lắm rồi quả nhân không được chiêm ngưỡng nàng múa. Giờ phút này trẫm chỉ ao ước được thưởng thức lại khúc Ngọc Tiên. Chỉ hiềm sau bao năm cơ cực liệu nàng có còn nhớ vũ điệu ấy chăng?
  • Thiếp vẫn nhớ như in, ngặt nỗi không có rượu tại đây.
  • Chẳng phải nàng đã cho người dâng rượu nhắc quả nhân chăng, trẫm đã mang đến đây rồi.

Nói đoạn người vỗ tay ra hiệu. Liền lập tức các thái giám đang đứng hầu bên ngoài vội mở cửa phòng, mang rượu vào rót đầy các chén ngọc kính cẩn đặt lên bàn. Thế Tôn lại truyền lệnh cho các thị nữ đem nến thơm và trầm hương vào đốt. Một số khác mang chăn đệm và gối lông ngỗng cực phẩm vào trải ngay ngắn trên giường rồi rẩy nước thơm chung quanh. Xong xuôi đâu đó tất cả đều lui ra và khép cửa lại. Chỉ còn hoàng thượng và Giai Chi ở lại với căn phòng lung linh ánh nến và thơm ngát trầm hương.

Khung cảnh trở nên ấm áp và lãng mạn lạ lùng. Ngoài cửa phòng tiếng đàn tranh đã bắt đầu ngân vang dìu dặt khúc nhạc năm xưa. Người ngọc lại say sưa nâng chén vào điệu múa. Đức kim thượng dán mắt nhìn không chớp, hồn lang thang vào cõi tiên bồng.

Đôi tay ngà ngọc nâng lên, giai nhân uốn người uyển chuyển theo tiết tấu nhạc. Dưới lớp lụa mỏng tang lồ lộ một tòa thiên nhiên đẹp khôn tả khiến cơn khát tình trong lòng Thế Tôn ngùn ngụt dâng lên. Nhạc vừa dứt, người ngọc lại dâng rượu mời. Khác với mọi khi Thế Tôn không uống mà cởi phăng hàng cúc áo cài hờ khiến y phục nàng rơi xuống để lộ thân hình căng mọng của người đàn bà đang ở độ tuổi sung mãn nhất đời người khiến hoàng thượng đê mê rạo rực.

Khi cơn nhục cảm đã hừng hực đốt cháy tâm can thì lễ tiết trở nên thừa thải. Thế Tôn hoàng đế buông lời phóng đãng “Quả nhân muốn được thưởng thức món đào tiên ướp rượu, nàng có chiều ta chăng?”. Lẽ đương nhiên Giai Chi chẳng dại khước từ, đôi mắt long lanh chớp nhẹ tỏ ý bằng lòng. Phút chốc rượu vàng ươm tuôn chảy xuống người nàng, Thế Tôn say sưa nếm rượu khắp thân thể ngọc ngà của giai nhân, rồi dịu dàng bế Trịnh phi đến chiếc giường đã trải chăn êm nệm ấm, cùng nhau đắm chìm trong cõi lạc.

Khác với vẻ lạnh lẽo và u ám thường ngày, lãnh cung đêm ấy bỗng trở thành một thiên đường khoái lạc với ánh nến lung linh huyền ảo. Mùi trầm hương thơm ngát tỏa lan và vị rượu ngọt nồng cay trên thịt da người ngọc. Âu cũng là một trải nghiệm hiếm có trong đời Thế Tôn: nếm trải khoảnh khắc thiên đường ngay trong khung cảnh địa ngục.

Sáng hôm sau kiệu loan dừng trước lãnh cung, tiếng trống kèn tưng bừng rộn rã đón Trịnh phi trở lại Tiêu Dao.

About hoingovanchuong

Nhà văn
This entry was posted in 07.Văn and tagged . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s