DỌC MIỀN TRUNG (1)

logosachĐÀO THẮNG

Phần I – Về xứ Thanh 

I. Chào Hà Nội vào Thanh

Tôi vốn là một chú lính bộ binh thuộc sư đoàn 330, một binh đoàn chủ lực miền Nam tập kết làm nhiệm vụ huấn luyện quân bổ sung vào chiến trường B. Trung đoàn tôi, đoàn Sông Đào (E46) có ba tiểu đoàn: Nguyễn Nhạc (D1), Nguyễn Huệ (D2), nguyễn Lữ (D3). Nguyễn Lữ, ông em út trong ba anh em nhà Tây Sơn, giỏi võ lừng tiếng, mê đắm chọi gà rồi từ các xới gà với các hồ đấu máu lửa của các tướng gà cao thủ, đã sáng tạo ra thế võ “Hùng Kê quyền” – đỉnh cao của môn phái võ Bình Định. Thế võ đáng sợ với các đội quân xâm lược Xiêm rồi là quân dòng họ Sầm Điền Châu nhà Thanh – một đội quân nổi tiếng giỏi võ, đụng đầu, quần thảo suốt ngày mồng năm tháng giêng xuân Kỷ Dậu (1789) rồi bị chôn vùi thành đống tại Chùa Bộc ở Thái Hà rồi gò Đống Đa… Hồi ấy cứ mỗi lần bổ sung quân đi B, đơn vị tôi lại vợi người, mấy anh em chúng tôi chưa được xét tiêu chuẩn đi chiến trường bỏ cơm, ngồi bên nhau khóc ấm ức. Nước mắt lặn vào trong.

Đùng một cái, có lệnh cả tiểu đoàn nguyễn Lữ quân cán kéo nhau về Phùng (khi đó là Hà Đông) thành lập các tiểu đoàn pháo cao xạ, lúc đầu có tin là về Nhổn bổ sung cho Trung đoàn tên lửa 267 (đoàn Điện Biên) sau vì tình hình cấp bách cần gấp những đơn vị nhỏ gọn, thiện chiến cả tiểu đoàn về thẳng Thọ An, huyện Đan Phượng huấn luyện về pháo cao xạ 37 ly. Hành quân bộ từ miền biển Nam Định về thành phố, lên tầu, đi đến Phủ Lý tăng bo qua tầu khác vì thị xã Phủ Lý vừa bị đánh huỷ diệt vào tháng 10 năm 1966. Chúng tôi khoác ba lô lội qua những cồn đất, tránh các hố bom, những đám lửa còn âm ỷ cháy. Khi đó tôi chưa được biết những tấm gương anh hùng của bộ đội phòng không và mười cô gái dân quân Lam Hạ hi sinh tại các trân địa Đình Tràng, Đồng ấm, xã Lam Hạ. Tôi cũng chưa có một chút tiên cảm nào về tiểu đoàn Nguyễn Lữ của tôi sau này nhập vào trung đoàn 233 (đoàn Đống Đa pháo phòng không) chiến đấu bảo vệ Phủ Lý từ tháng 8 đến tháng 10 năm 1966. Nhiều cán bộ, chiến sỹ đã hi sinh, trong đó có Tham mưu trưởng trung đoàn, đại uý Đinh Giang hi sinh ngay tại trận địa Đồng ấm. Chính từ các trận đánh ác liệt bảo vệ Phủ Lý đã xây dựng nên tấm gương người chính trị viên đại đội 6 Mai Văn Hợi bị rốc két nổ gần dập nát cánh tay vẫn bình tĩnh đứng ở hố chỉ huy cho y tá cắt bỏ cánh tay không rời trận địa. Bác Hồ đọc báo Phòng không – Không quân biết tấm gương chiến đấu dũng cảm của Mai Văn Hợi đã tặng huy hiệu của người cho cháu bộ đội miền Nam tập kết. Và tinh thần chiến đấu anh dũng của Chính trị viên Mai Văn Hợi thành tấm gương học tập cho các đơn vị trong toàn quân chủng Phòng không – Không quân.

Chúng tôi người nào cũng ba lô nặng trĩu vai, xuống cống Vọng, ngày đó còn có tên là ga xép Cống Vọng tức ngã tư Vọng, hành quân bộ qua đường Tầu Bay, qua đường Láng đến ô Cầu Giấy, Trạm Trôi, đến Nhổn, lên thị trấn Phùng rồi về thẳng Thọ An, thôn Thọ Vực. Thôn Thọ Vực có một cái vực lớn, rất sâu, có lẽ do vỡ đê ngọn nước lũ đã xoáy sâu tạo nên cái vực độc đáo này. Đang mùa thu tháng mười heo may thổi nhẹ, sóng trên vực vỗ ì oạp vào bậc gạch các cầu tắm rửa to rộng. Hồi ấy ao hồ chưa có nạn ô nhiễm như bây giờ, nước trong vắt, các cô gái làng mặc áo đông xuân trắng ra tắm té nước vào nhau ào ào. Đám lính trẻ chúng tôi cũng cởi bộ quân phục, mặc độc chiếc quần đùi bà bô thắt dải rút ào xuống một cái cầu còn trống, trút bỏ bụi đường. Vòm trời cao xanh, heo may nhẹ thổi khô mái tóc trẻ, khô ngực áo đông xuân đầy sức sống các cô gái xứ Đoài tôi ngụp lặn trong sóng vực nước mùa thu, cảm nhận được hương bồ kết, hương lá sả, hương bưởi, hương chanh bay mơ màng trong gió, cảm giác da thịt bớt đi cái mặn mòi của xứ biển Nam Định.

  Đơn vị nhận khí tài, nhận pháo mới. Hình thành các bộ phận phục vụ chiến đấu: Thông tin, trinh sát, đo xa, quân khí, y tá… Có một số chiến sĩ đã qua chiến đấu với máy bay Mỹ về làm cán bộ khẩu đội trưởng, tiểu đội trưởng. Cán bộ trung đội, đại đội đều đã qua chiến đấu với máy bay Mỹ ở khu Bốn, được bồi dưỡng ngắn hạn tại Trường sĩ quan Phòng không của Quân chủng Phòng không – Không quân đang phát triển nhảy vọt với tinh thần lớn dậy của Phù Đổng Thiên Vương. Lệnh trên học tập ngày đêm, sau một tháng có thể chiến đấu được. Hình thành trận địa ở khu sân đình làng, dưới vòm mấy cây muỗm lớn là bốn khẩu pháo và khu chỉ huy. Pháo thủ thực hành thuần thục cách đặt pháo, lên pháo, lấy thăng bằng, vừa tập luyện, vừa đào đắp công sự pháo dã chiến tại các thửa ruộng mới gặt ngoài rìa làng, khi có trận địa rồi pháo thủ cùng lái xe thực hành tập dắt pháo vào, kéo pháo ra. Chỗ chúng tôi ở khá xa Hà Nội. Thỉnh thoảng vẫn nhìn thấy những chiếc MiG 21 phản lực của ta bay lẻ hoặc MiG 17 bay đôi phía chân trời. Đôi tai trinh sát của tôi bắt đầu nghe được tiếng máy bay lạ ở phía xa. Rồi một buổi trưa đứng trực ban, tôi phát hiện hai vệt khói tên lửa trắng xốp bay lên rất cao nhằm vào máy bay trinh sát không người lái của Mỹ lao tới. Nổ trượt rồi, trực ban hôm sau vẫn thấy những vệt khói tên lửa ấy đuổi theo chiếc máy bay trinh sát của không quân Mỹ RF101 bay trinh sát chụp ảnh chuẩn bị đánh Hà Nội. Như vậy là chúng chuẩn bị đánh Hà Nội. Từ trận tập kích bất ngờ đánh vào kho xăng Đức Giang gây ra vệt khói xăng khổng lồ đến lúc đó Mỹ vẫn chưa đánh lại Hà Nội.

Tiểu đoàn tôi với tên mới : Tiểu đoàn 5 thuộc trung đoàn mới thành lập 256 nhận lệnh về bảo vệ phía tây Hà Nội. Đại đội tôi mang tên mới đại đội 1, đào trận địa bên ngoài làng Đa Sĩ, Hà Đông. Ruộng lúa mới gặt rạ còn tươi, gió bấc đã thổi khô se mặt bùn. Bốn khẩu pháo 37 ly một nòng, quay hướng đông nam (hướng 34). Đại đội có nhiệm vụ bảo vệ khu Cao – Xà – Lá (khu Thượng Đình gồm nhà máy cao su, nhà máy xà phòng và nhà máy thuốc lá) và chi viện cho đại đội pháo 100 ly ở phía sau khu Thượng Đình. Ngày 02 tháng 12 năm 1966, máy bay Mỹ đánh Hà Nội. Một tốp A4D của hải quân Mỹ đánh khu Cao – Xà – Lá. đại đội một của chúng tôi nổ súng, toàn tiểu đoàn nổ súng. Tôi đứng trong hố trinh sát giọng hô to mà run, hai đầu gối cũng run. Cái run bản năng của người lính mới vào trận không sao điều khiển được. Giọng hô bắn của đại đội trưởng cũng run. Các khẩu pháo hình như cũng run. Trận đánh diễn ra nhanh. Sau mấy đường bổ nhào bắn tên lửa không đối đất tốp máy bay địch như biến đi đâu. Chúng tôi rút kinh nghiệm. Cả bốn khẩu pháo đều nổ được. Trinh sát chỉ thị được mục tiêu. Đo xa, đo và đọc được cự ly. Lần đầu tiên nhìn đối diện với máy bay Mỹ bắn và bổ nhào. Đại đội phó Dương, bộ đội miền nam tập kết, nói to :

– Lần đầu tiên đánh thế này chấp nhận là được.

– Có sự hiệp đồng chiến đấu.

– Lần đầu có thể sợ, lần thứ hai bớt sợ và lần sau không còn sợ nữa.

Chính trị viên Nguyễn Viết Xuân hô ! :

– Máy bay Mỹ không có gì đáng sợ, nhằm thẳng quân thù mà bắn. Các đồng chí có lĩnh hội được tinh thần tiến công đó không ?

Thế là chúng tôi đã thành lính chiến, đi đứng chững chạc, nhìn đất nhìn trời tự tin hơn. Bẵng đi một tuần im ắng, sáng 12 tháng 12 năm 1966, trên thông báo máy bay Mỹ đánh Hà Nội lớn hơn. Vậy đấy, chà đạp lên dư luận quốc tế Mỹ đã đánh Hà Nội công khai. Giôn Sơn đã leo lên nấc thang cao nhất, đánh vào Thủ đô, trái tim của cả nước, Thủ đô ngàn năm lịch sử thiêng liêng của dân tộc Việt Nam. Chín giờ mười lăm phút, nhiều tốp A4D của hải quân Mỹ có máy bay tiêm kích F8U và F4 bảo vệ lao vào Hà Nội. Hai tốp A4D ném bom khu công nghiệp Thượng Đình. Đại đội phó Dương cho đánh tất cả những chiếc máy bay lao xuống cắt bom. Cả bốn khẩu pháo 37 ly nổ giòn giã, tiếng nổ bình! … bình! như tiếng trống giật. Tôi nhìn thấy một chiếc A4 bổ nhào đánh thẳng vào trận địa pháo 100 ly rồi là thấp về phía đại đội tôi. Tôi giơ tay hô lớn :

– Máy bay A4 bay thấp!

Pháo quay bắt máy bay không kịp, có khẩu còn bắn đuổi theo chiếc A4. Đại đội phó Dương quát lớn :

– Quay pháo hướng 12 (tây bắc).

Bốn khẩu pháo quay theo hướng ngọn cờ anh Dương. Chiếc A4 lao xuống trận địa pháo 100 bị luồng đạn pháo 37 hất là lên, quả bom cắt vội bay ra phía đồng còn đầy chân rạ.

Buổi tối đơn vị tổ chức rút kinh nghiệm chiến đấu. Trận địa chưa dựng lán ở, bộ phận chỉ huy họp trong nhà dân. Làng rèn Đa Sỹ tiếng búa đập chan chát, lắng nghe như tiếng pháo trong trận đánh chưa dứt hẳn. Lệnh của cấp trên, đơn vị thành lập một đoàn sang thăm đại đội pháo gần trận địa tôi bị máy bay Mỹ đánh buổi trưa. Đó là một đại đội pháo của trung đoàn pháo cao xạ 233 kết nghĩa với quân dân khu phố Đống Đa nên được mang tên đoàn Đống Đa. Tôi không ngờ trận hiệp đồng chiến đấu và lần thăm hỏi tối hôm ấy gần như một sự tiền định, một sự sắp đặt nào đó, cơ duyên nào đó để đến khi Mỹ ném bom hạn chế miền Bắc (từ ngày 31 tháng 03 năm 1968) đoàn Đống Đa (e233) trên đường vào khu Bốn đã đón tiểu đoàn năm chúng tôi sáp nhập vào trung đoàn tại nam xứ Thanh.

Liên lạc tiểu đoàn chuyển xuống bức điện mật do cơ yếu dịch lệnh tiểu đoàn năm trong đội hình e256 cấp tốc hành quân vào nam Thanh Hoá bảo vệ giao thông và đường ra đảo Hòn Mê.

Đêm nhận lệnh, trong ngày hôm sau chuẩn bị, tối hành quân. Đang làm anh lính bộ binh, động đi đâu là chạy bộ, bây giờ ngồi trên xe pháo. Tức là cơ giới, là tốc độ của một binh chủng kỹ thuật đối mặt với máy bay siêu thanh hiện đại nhất thế giới của Mỹ. Chúng tôi bước vào một guồng quay mới, ở đó anh không thể nhẩn nha, tư duy, tinh thần và ý chí phải đặt trong cái guồng quay sự sống cái chết, chiến thắng hay thất bại. Trần trụi và khốc liệt. Anh bước tới không có quyền quay lưng. Chúng tôi tự tin vì đã có trong tay vốn chiến đấu (mặc dù là mấy trận) bảo vệ thủ đô Hà Nội. Vào xứ Thanh, hay về xứ Thanh đã mang trong mình nỗi nhớ Hà Nội :

“Đêm Hà Nội đầy sao chiến thắng.

Ta lên đường trong một chuyến đi xa.

Cả đô thành đêm nay không ngủ.

Sau lưng Hồng Hà đỏ sóng reo ca”.

                    … … …

“Đây sông Mã ngàn năm tung bờm trắng”.

Xứ Thanh khi đó đã âm vang chiến thắng Hàm Rồng lừng lẫy chiến công. Chiến thắng trận đầu không quân ta xuất kích trong hai ngày 03 và 04 tháng 04 năm 1965 hiệp đồng chiến đấu với các đơn vị phòng không, pháo cao xạ, các đơn vị dân quân tự vệ anh hùng của xứ Thanh. Cả xứ Thanh đang tưng bừng các tên đất : Nam ngạn, Hàm Rồng, Yên Vực và tên những người con thân yêu sinh ra từ nơi đây và ở khắp các miền đất nước về đây chiến đấu, trưởng thành, sẵn sàng hi sinh trên vùng đất thiêng liêng này : Phạm Ngọc Lan, Trần Hanh, Nguyễn Bá Ngọc, Nguyễn Thị Hằng, Ngô Thị Tuyển v.v. Cầu Hàm Rồng hiên ngang đứng vững dưới ngàn tấn bom Mỹ đã thành biểu tượng chiến thắng của miền Bắc xã hội chủ nghĩa trong cuộc chiến đấu chống lại chiến tranh phá hoại man rợ của đế quốc Mỹ. Khi tôi viết những dòng này cũng sắp tới dịp kỉ niệm 45 năm ngày Không quân nhân dân Việt Nam chiến thắng trận đầu trên bầu trời Hàm Rồng. 45 năm ngày quân dân Hàm Rồng, Nam Ngạn, Yên Vực, Thanh Hoá chiến thắng giặc Mỹ.

Chúng tôi hành quân thẳng từ khu công nghiệp Thượng Đình, Đống Đa dừng chân tại một cánh rừng thông Hà Trung, tối hôm đó vượt cầu phao Đò Lèn, qua cầu Tào còn khá nguyên vẹn để tiến vào Hàm Rồng, cây cầu lịch sử, niềm kiêu hãnh của tất cả bộ đội phòng không – không quân. Trong ánh pháo sáng gay gắt, cây cầu hiện ra. Đây niềm tự hào vô song của tất cả người dân Thanh Hoá. Của cả miền Bắc và đồng bào cả nước. Tôi tự nhiên làm một việc kỳ cục, đưa tay mở nắp hộp ống nhòm, lấy ra chiếc ống nhòm Liên Xô mới toanh còn giữ nguyên mùi thơm gỗ thông xứ lạnh, hòm đựng đồ quân dụng để nhìn cho rõ những thanh cầu, trục cầu đầy thương tích, mà thật ra với Hàm Rồng vào cái đêm ấy mới qua đoạn khởi đầu, những năm tháng sau còn khốc liệt hơn nhiều. Tôi sẽ có dịp nhắc tới ở phần sau.

(Còn tiếp)

About hoingovanchuong

Nhà văn
This entry was posted in 07.Văn and tagged . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s