NGƯỜI CHÌM TRONG HỒN THIỀN

NGUYỄN ANH TUẤN

LyTranĐọc sách: Hồn thiền trong thơ Lý – Trần (Nxb Hội Nhà văn, HN 2013).

Ba năm trở lại đây, Vũ Bình Lục được đông đảo người đọc biết đến không chỉ là một nhà thơ có dấu ấn riêng, mà còn như một nhà nghiên cứu bình luận văn chương cổ điển khá độc đáo. Cái độc đáo trước hết là anh đã “đơn thương độc mã” bước vào cuộc hành trình cực kỳ khó khăn gian khổ, làm cái công việc thực ra là của cả một tập thể, thuộc một viện nghiên cứu nào đó, với sự đặt hàng của Nhà nước và với khoản kinh phí không hề nhỏ; nhưng anh đã một mình âm thầm thực hiện công việc này, bằng khoản lương hưu của một nhà giáo & một cán bộ quân đội cũ, và bằng một sự đam mê kỳ lạ như anh bất chợt “ngộ” ra cái sứ mệnh đặt trên đôi vai đơn độc của mình… Cái độc đáo thứ hai, với tư cách là một nhà thơ, anh đã tìm cách “đọc” những tác giả cổ – trung đại Việt Nam, giải mã những giá trị văn chương còn ẩn tàng ở nhiều tên tuổi lớn mà cho đến nay vẫn còn là sự thách đố trong việc nghiên cứu, thẩm định, giảng dạy- bằng trải nghiệm và thi hứng của một tâm hồn thi sĩ từng đứng trên bục dạy văn nhiều năm. Và điều quan trọng hơn cả, hai sự độc đáo này đã được thế chấp, được bảo chứng bằng những trang viết mà nhà thơ Trần Đăng Khoa đã nhận định chính xác là: “rất công phu, cẩn trọng và tinh tế trong việc tuyển chọn dịch thơ và bình giải những tác phẩm kinh điển đặc sắc nhưng đâu có dễ đọc.”

     Vâng, quả không dễ đọc chút nào những tác phẩm chữ Hán, chữ Nôm trong kho tàng văn học cổ VN… Một bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt của thiền sư Pháp Thuận (Quốc tộ) mà tốn không ít giấy mực của nhiều nhà nghiên cứu-giảng dạy khi đưa vào chương trình văn PTTH! Sự cách biệt về thời gian lịch sử, tâm lý thời đại, rào cản ngôn ngữ, thói quen thẩm mỹ, trùng trùng điển cố điển tích, v.v. là những thử thách khiến nản lòng nhiều thế hệ người đọc (trong đó có thầy giáo và học trò) thời hiện đại. Còn với VBL, ta có cảm tưởng anh giống một nghệ sĩ điêu khắc đứng trước một khối đá hoa cương khổng lồ, trong khi mọi người hoảng sợ lo lắng thì anh bình tĩnh, thao tác từng nhát đục với sự chính xác và đầy cảm hứng của một người nắm chắc kỹ thuật đồng thời cũng nhìn thấy trước sản phẩm của mình trong tâm tưởng… Từ chỗ bình giải lẻ tẻ những bài thơ cổ, chỉ trong vòng chưa đầy hai năm, VBL đã tập trung vào hoàn thiện các công trình tinh tuyển-bình giải về những tác giả lớn: Cao Bá Quát (tập 4), Nguyễn Trãi (tập 5), và mới nhất là cả một thời đại thi ca sáng chói Lý – Trần!

     Điều đặc biệt nhất ở Hồn thiền trong thơ Lý – Trần, cái khu biệt với những cuốn sách cùng loại của VBL hay của những tác giả khác, chính là phần dịch thơ bằng thể lục bát của VBL! Dịch thơ cổ theo kiểu VBL, đó cũng là một cách “đọc” khá độc đáo của một nhà giáo-nhà thơ-nhà nghiên cứu đối với văn bản thơ cổ. Tác giả biết rõ sự khác biệt & chênh lệch giữa thể thơ Đường luật với thể thơ lục bát dân tộc, nhưng anh đã tự tin, chủ động và say sưa với sự chuyển ngữ theo cách này. Bởi thực tế, cùng những lời bình giải khúc chiết thấm đẫm hồn thơ của tác giả, những dòng thơ dịch bằng lục bát của anh đã bổ sung một cách thấm thía/ đắc địa cho lời bình, là một con đường mới đưa người đọc thấm vào hồn vía sâu thẳm của tác phẩm! Khi dịch lục bát, phá đi hoàn toàn thể cách của nguyên tác, dường như VBL cũng đang làm thơ theo nghĩa sáng tạo tác phẩm cho riêng mình? Nhưng trong khi thăng hoa với chất liệu sống & thi liệu của của một bài thơ nào đó, anh đã cố gắng ở mức độ cao nhất thể hiện tinh thần nguyên tác- bởi đó là mục đích chính của người làm sách: đem đến cho người đọc cái tinh túy của của tác phẩm, giúp người đọc đồng cảm với tâm sự sâu kín nhất của tác giả. Đọc thơ người xưa, VBL như lắng mọi giác quan của mình để không bỏ sót bất cứ một chi tiết, một thi ảnh, một tiếng động nhỏ bé nào rồi từ đó vận dụng suy tưởng, các kiến thức văn học, xã hội, tự nhiên, triết học… một cách nhuần nhị nhằm phát hiện ra cảnh ngộ & thực chất tâm trạng thi nhân, và cùng tác giả “ngộ ” ra điều gì đó về chân lý cuộc đời.

      Tuy thao tác phân tích bình giải thơ của VBL đã đạt tới sự thành thục song không hề mất đi độ rung cảm tươi mới, sự đằm thắm trước mỗi tác phẩm cụ thể, như lần đầu tiên anh được đọc và phát hiện ra vẻ đẹp tiềm ẩn trong chúng. Đây thực sự là kết quả của lòng yêu thơ tới độ say đắm, của một bề dày kiến thức văn hóa nhiều mặt cùng những kinh nghiệm hàng chục năm giảng dạy văn chương. Với 63 tác giả và 165 bài thơ chọn dịch & bình giải, VBL đã thực hiện được một công trình văn học kỷ lục “vô tiền khoáng hậu”!

     Đọc cuốn sách này, không ít người đọc sẽ phải ngỡ ngàng khi biết rằng: thượng tướng thái sư Trần Quang Khải không chỉ nổi tiếng với bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư có âm hưởng tráng ca thể hiện khát vọng bảo vệ Tổ quốc và tầm nhìn xa trông rộng của một nhà lãnh đạo tài giỏi, ông còn là tác giả của những áng thơ man mác nỗi niềm thế sự có sức trường tồn với thời gian, như: Lưu gia độ, Xuân cảm… Ở mảng thơ thời Lý, thời thịnh Trần, như nhiều nhà nghiên cứu phê bình khác, VBL cũng tiếp tục khám phá, bình giải vẻ đẹp của ý thức độc lập tự chủ, của hào khí anh hùng bất khuất Đại Việt, nhưng theo tôi phần đóng góp thực sự của anh, xét về công sức lẫn dấu ấn riêng biệt, chính là ở mảng thơ thời vãn Trần với âm điệu trữ tình bản thể, mà nổi bật là nỗi lo đời thương dân trĩu nặng, tâm trạng buồn chán, thất vọng trước tình trạng triều chính rối ren nhiễu loạn! Với những tác giả giai đoạn này, vốn quen thuộc như Trương Hán Siêu, Chu Văn An, Phạm Sư Mạnh, Trần Nguyên Đán, Nguyễn Phi Khanh… hoặc không ít tác giả thơ tuyệt hay song chưa được biết đến nhiều, như Nguyễn Trung Ngạn, Trần Quang Triều, Nguyễn Sưởng, Nguyễn Ức, Phạm Ngộ, Đỗ Tử Vi, Phạm Mại…, VBL đã dành cho họ những trang viết và những dòng thơ dịch có thể nói là của người tri âm! Nếu như những bài kệ giàu triết lý, những bài thơ hào sảng tinh thần dân tộc thời Lý- Trần khi dịch qua lục bát, nhiều chỗ người đọc cảm thấy chưa thỏa mãn, thì hầu hết thơ dịch lục bát thời vãn Trần của VBL đều có thể khiến người đọc “tâm phục khẩu phục”!

       Và cũng cần ghi nhận một đóng góp nhiều ý nghĩa của VBL khi tuyển-dịch-bình thơ Lý – Trần: anh đã cố gắng qua thơ xưa để dựng lên chân dung tinh thần cao quý, nhân cách đẹp đẽ của các vị hoàng đế, thiền sư, danh tướng, danh nho đáng yêu đáng kính (thậm chí trong số đó có những người không rõ lai lịch), và nêu ra một cách thuyết phục những bài học nhân sinh sáng rõ, cần thiết cho đời sau. Viết về thơ Nguyễn Ức, một vị quan từ bỏ công danh về sống cảnh quê nghèo, VBL đã có một khái quát nhưng giàu cảm xúc, vừa thâu tóm được nội dung của bài thơ đang bình, lại vừa xác định một hướng lý luận cơ bản cho việc bình giải thơ của anh: “Nghệ thuật khoa trương trong miêu tả, có thể chỉ góp thêm cái phần mỹ cảm trong thơ, chứ không thể thay thế được phẩm chất tâm hồn trong trẻo của thi nhân”. Sau khi giúp người đọc hiểu được bài thơ Đề ẩn giả sở cư họa vận bằng thơ dịch và khắc họa lại chân dung một ẩn sĩ nơi rừng suối cùng tấn bi kịch của người “buộc phải nhàn”, VBL nhận định về Nhân cách và Thơ ca của tác giả một cách ngắn gọn đầy sức nặng: “Phạm Mại là một vị quan Ngự sử cương trực, thẳng thắn, không chịu ngồi yên nhìn sự bất bình. Thơ ông thể hiện được cái chí ấy, nhưng lại trữ tình hào hoa”. Hai câu thơ của Băng Hồ Trần Nguyên Đán: Tam vạn quyển thư vô dụng xứ/ Bạch đầu không phụ ái dân tâm được VBL dịch như sau: Đọc nhiều, nào ích chi đâu/ Phụ lòng dân, đến bạc đầu chửa an. Và anh bình, tựa một lời thở than ngậm ngùi phải nuốt nước mắt vào lòng: “Nhà nho đọc rộng biết nhiều, chẳng những không cứu được cơ nghiệp họ Trần, mà còn chẳng cứu được sinh dân trong đói nghèo, chẳng đáng xấu hổ hay sao! Đó cũng chính là nỗi xót xa đau đớn của kẻ sĩ, lại có trọng trách lớn với triều đình, với Dân với Nước. Câu thơ như một tiếng thở dài bất tận.” Đọc Chu Đường Anh- tác giả còn lưu lại một bài thơ, VBL viết: “Tác giả thông qua bài thơ đề tranh Đường Minh Hoàng tắm ngựa để gửi gắm ý ngầm phê phán vua Trần, rộng ra là triều đại nhà Trần đang trên đường tuột dốc. Hai câu thơ tình ý như thể đặt ra một giả thiết, lại như thể một câu hỏi tu từ, tức hỏi để mà khẳng định, rằng: Nếu vua yêu ngựa như dân/ Dân đâu đến nỗi muôn phần khổ đau! Kẻ sĩ muôn đời thường cả nghĩ như vậy… Quyền lực và bạc tiền đã biến những ông vua ngu hèn thành những con rối của trò chơi chính trị và ham muốn thấp hèn. Bậc trí giả không có cơ hội trình bày trực tiếp, chỉ gửi gắm qua những vần thơ thâm hậu, cũng là lời cảnh tỉnh đến muôn sau. Thế chẳng phải văn chương chẳng những làm đẹp cho đời, còn có sức mạnh thúc đẩy con thuyền dân tộc đi lên đấy ư?” Qua hai bài thơ của vua Trần Minh Tông, VBL đã đọc ra được nỗi ân hận muộn mằn, day dứt khôn nguôi của ông về một vụ án oan cũ là trót nghe lời dèm pha giết hại người vô tội: Lầm xưa thoắt mấy mươi năm/ Đành ôm sầu hận lặng thầm nghe mưa (Mưa đêm). Sau khi cảm nhận cái hay, cái tình của thơ ông vua nhân hậu, VBL bình luận: “Một con người đang nắm quyền lớn, chịu trách nhiệm lớn trước thiên hạ, mà tự phán xét để nhận biết sai lầm, tự ăn năn hối cải, tự nghiêm túc sửa chữa sai lầm, chẳng phải là một nhân cách đáng trọng hay sao?”

      VBL có khả năng thâm nhập vào nhiều cảnh ngộ & tâm trạng của tác giả thơ lẫn nhân vật trữ tình- lúc lận đận bên trời đi sứ, khi thả hồn trước thiên nhiên tráng lệ, lúc quặn đau bởi vận nước suy tàn… để có thể đồng cảm sâu sắc với những nỗi niềm được gửi gắm qua câu chữ. Đọc, dịch bài thơ Trước thuyền ngắm cảnh chiều hôm, tới câu kết: Nhặt xanh gom thắm đủ rồi/ Lặng ngồi bên cửa rối bời tâm can, VBL đã viết như chính anh đang ứa lệ cùng nhà nho Nguyễn Tử Thành: “Chu trung vãn thiểu, chính là lời than vãn đau đớn của tác giả, trước hiện tình đất nước đang hồi điêu linh. Dân đen cùng cực, triều đình nhiễu loạn, gian thần tác oai tác quái. Những người trung nghĩa phải cắn răng nuốt hận mà thở dài. Thật buồn bã lắm thay!”

       Trong việc bình giải thơ cổ Lý – Trần, VBL đã soi chiếu chúng trước hết bằng những thủ pháp nghệ thuật phương Đông:  tìm cái động trong cái tĩnh, đi từ toàn cảnh tới chi tiết, từ xa tới gần, từ cái thực tìm cái tượng trưng hay ngược lại, lấy vật thể diễn tả sự chuyển động của cái vô hình (thời gian, lòng người, v.v), vẽ mây để tả trăng… Anh thường liên hệ đối tượng bình giải của mình với thi ca nhiều thời đại, nhiều nền văn hóa khác nhau; thậm chí anh còn lấy cả trải nghiệm của mình ở đoạn đời người lính trận để hiểu thêm thơ xưa! Anh miêu tả thơ cổ bằng con mắt tinh tường nhìn ngắm một bức tranh thủy mạc, và bằng toàn bộ cảm giác trước âm thanh, ánh sáng thiên nhiên, hành động lẫn tâm tư của nhân vật trữ tình… với tất cả sự rung động của người thưởng thức trước khi làm người bình giải. VBL còn mạnh dạn đánh giá, so sánh công bằng về trình độ nghệ thuật thơ giữa các tác giả- không hề nể nang về nhân cách hay địa vị xã hội của tác giả đó…

***

      Với tên sách Hồn thiền…, người đọc có quyền mong tác giả khai thác sâu thêm chủ yếu ở phần giới thuyết về cơ sở xã hội cũng như nền tảng của triết lý Thiền tông thời Lý – Trần, đặc biệt là phái Thiền Trúc Lâm do vua Phật Trần Nhân Tông khởi dựng xuất phát từ Thiền phái Thảo Đường thời Lý, tới vua Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng sĩ… Người đọc có thể không đồng tình lắm với một vài bình giải, như về thơ của thiền sư Đạo Tái Huyền Quang, bởi tác giả có lẽ chưa thấy hết tính chất nhập thế của một dòng thiền thuần Việt mà đệ tam tổ Thiền phái Trúc Lâm đang đại diện lúc ấy… Song những điều đó không ảnh hưởng là bao tới chất lượng cuốn sách. Với những gì đã hiển hiện trên hơn 700 trang sách, ta có thể vui mừng trước sự đóng góp đáng kể của nhà thơ VBL cho sự nghiệp nghiên cứu & truyền bá những giá trị vô giá của văn học cổ điển nước nhà. Và chỉ riêng cái tâm nguyện trở về thơ xưa mong tìm lại những mạch nguồn tinh thần Dân tộc đặng góp vào sức mạnh giữ Nước cho hôm nay đã là điều vô cùng đáng trân trọng!

Hà Nội, 2013

About hoingovanchuong

Nhà văn
This entry was posted in 05.Phê bình-lý luận and tagged , . Bookmark the permalink.

Có 2 phản hồi tại NGƯỜI CHÌM TRONG HỒN THIỀN

  1. Pingback: Thứ Bảy, 12-10-2013 | Dahanhkhach's Blog

  2. Pingback: NHẬT BÁO BA SÀM : TIN THỨ BẢY 12-10-2013 | Ngoclinhvugia's Blog

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s