HÀO VŨ TRONG MÀU XANH VÀM CỎ

NGÔ XUÂN HỘI

Nhà văn Hào Vũ

Nhà văn Hào Vũ

Nhà văn Hào Vũ, sinh năm 1950. Quê quán: An Hải, Hải Phòng.

Tác phẩm chính đã xuất bản: Sau ngày chiến thắng (tập truyện ngắn, 1983); Gò xanh (tập truyện ngắn, 1983); Đất không giấu mặt (tiểu thuyết, 1983); Nữ sinh biệt động (truyện dài, 1987); Ly dị (tiểu thuyết, 1989); Mưa lạnh (tiểu thuyết, 1992); Sao rơi (tập truyện ngắn, 2002); Xa xăm (tiểu thuyết, 2010)…

Giải thưởng văn học: Giải thưởng truyện ngắn Tạp chí Quân giải phóng miền Nam (truyện Hai ông cháu); Giải thưởng truyện ngắn báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam, 1979 (truyện Màu xanh Vàm Cỏ Tây); Giải thưởng truyện ngắn mini tạp chí Thế giới mới, 1994 (truyện Khách thương hồ); Giải thưởng truyện ngắn tạp chí Tác phẩm mới, 1995 (truyện Điều ấy đã không xảy ra…) Và một số giải thưởng truyện ngắn khác.

Tròn 34 tuổi, năm 1984 Hào Vũ vào Hội Nhà văn Việt Nam. So mặt bằng chung của Hội lúc ấy, anh là một hội viên trẻ. Nhưng theo tôi, anh xứng đáng được gọi là nhà văn năm lên 10 tuổi, học lớp 4 trường làng. Ấy là khi thầy giáo ra cho lớp một đề văn: “Em hãy kể lại một kỷ niệm sâu sắc nhất trong đời mình”. Kể kỷ niệm gì đây, cậu bé Vũ Văn Hào băn khoăn. Cậu chẳng có một kỷ niệm sâu sắc nào cả. Bị bố đánh ư ? Chuyện thường. Hay ăn vụng thịt trong nồi của mẹ ? Thì đứa trẻ nào mà chẳng ăn vụng. Và thế là cậu suy nghĩ, bịa chuyện. Cậu bịa rằng mình đang đi chơi trên đường thì nhặt được tờ bạc một hào của ai đó đánh rơi, nhìn trước nhìn sau không có người, trống ngực đập thình thịch cậu cúi xuống lượm cho vào túi. Và sau đó là một cơn đấu tranh tư tưởng gay go, lấy tờ bạc hay tìm người đánh rơi trả lại. Cậu vốn chẳng giàu có gì, nhưng nếu không trả lại thì người mất sẽ đau khổ lắm. Sau một hồi tự tranh đấu, cuối cùng cậu quyết định vào đồn Công an nộp tờ bạc, nhờ các chú Công an bằng nghiệp vụ tài tình của mình tìm người đánh rơi trả lại. Bài văn ấy cậu được 10 điểm. Điều đáng nói là thầy giáo sau khi cho đứa học trò tài học văn không có gì nổi nội bỗng trở nên xuất sắc trong bài làm này điểm 10, đã kéo cậu ra một góc lớp hỏi nhỏ: “-Thầy hỏi thật em nhé, chỉmột hào bạc thôi mà em phải đấu tranh tư tưởng dữ vậy ư ?”. Câu hỏi của thầy giáo làm cậu bé điếng người, trở thành một kỷ niệm sâu sắc nhất trong thời thơ ấu, theo cậu cho tới tận hôm nay.

Hào Vũ kể cho tôi nghe kỷ niệm trên của anh vào một đêm mưa Hà Nội, trong ký túc xá của trường Viết văn Nguyễn Du, một ngôi nhà tranh vách đất dài gồm nhiều phòng được ngăn cách với nhau bằng những tấm vách cót. Ngôi nhà tọa giữa ba bề ao rau muống, bèo tây. Chúng tôi tọa trên chiếc giường đơn của Hào Vũ với một xị rượu làng Vân và mấy gói lạc rang mua từ quánchị Duẩn trước cổng trường.  Nghe xong, tôi ngắm nhìn anh tìm mối liên hệ giữa cậu bé ngây thơ bịa chuyện ngày nọ và nhà văn ngồi trước mặt, mà chịu, không tìm ra được một mối dây nào cả.

Nhà văn của chúng ta hôm naylà một đàn ôngcó dáng người cao vừa phải, quần áo mặc trông cu cũ, nhàu nhàu, đầu lúc nào cũng sùm sụp cái mũ vải để che đi cái trán hói quá sớm, giọng nói lắp ba lắp bắp, đi đâu cũng xắc cốt khoác vai. Khách quan cứ nghĩ anh là cán bộ kinh tài thuộc một xã vùng sâu vùng xa nào đó của miệt vườn. Nhưng ẩn dưới bề ngoài không chăm chút ấy là một con người thông minh vànghịch…  thì đáo để. Cùng học với nhau ba năm, tôi đã bao lần ngạc nhiên khi được chứng kiến cái sự nghịch ngợm hơn người của anh.Đơn cử lần nhà thơ Vương Anh đón vợ ra chơi. Vương Anh người dân tộc Mường, quê Thanh Hóa. Vợ anh, chị Liên Minh làm nghề dạy học, ở cùng quê. Để chuẩn bị đón hiền thê, nhà thơ liền cất công sáng tácmột cái Thời khóa biểu thể hiện việc sinh hoạt, học tập trong tuần mà một học sinh trường Nguyễnphải tuân thủ. Theo Thời gian biểu, tuần lễcó bảy ngày – ngày nào nhà thơ cũng phải dậy từ năm giờ sáng , từ đó cho đến mười mộtmười hai giờ đêm toàn làm những việc dời non lấp biển như đọc sách báo, nghiên cứu tài liệu, tham gia hội thảo, gặp gỡ nhà văn này, nhà nghiên cứu nọ, hoặc sáng tác. Thời gian dành cho việc nghỉ ngơi rất ít, đi chơi thì hoàn toàn không.

Buổi sáng hôm Vương Anh đón vợ từ ga về, hầu hết anh em cánh dân sự của lớp trong khu nội trú lần lượt sang hỏi thăm, trò chuyện. Không khí hết sức đầm ấm. Hào Vũ cũng sang thăm. Xong màn giao đãi, anh đứng dậy đi đến nhìn lom lom vào cái Thời khóa biểu của Vương Anh treo trên vách cót, hỏi một câu xanh rờn:

– Này ông Vương Anh, thế hôm đi chơi Việt Trì với cái Loan lớp Bảo tàng ông ghi vào chỗ nào ?

Căn phòng đang ồn ào bỗng lặng phắc. Có thể nghe rõ tiếng tim của Vương Anh đập nhịp trong lồng ngực. Hào Vũ sau khi dội xong quả bom, điềm nhiên rút ở túi áo ra điếu thuốc lá dỗ lên mặt đồng hồ đeo tay, tính bật diêm châm thuốc hút. Sực thấy Ma Trường Nguyên đang cắp nách chiếc điếu cày, anh liền bỏ sở trường dùng sở đoản mượn chiếc điếu cày của họ Ma mồi một điếu. Rít xong điếu thuốc lào, anh khoan khoái nhả khói, rồi xuống xề câu vọng cổ bằng một giọng khê nồng:

– Em ơi trái đất vẫn tròn/ Chúng mình hai đứa vẫn còn gặp nhau…

Sau đó chào vợ chồng Vương Anh ra về. Chưa về đến cửa phòng, Hào Vũ chợt giật mình khi nghe phía sau có tiếng bước chân người chạy huỳnh huỵch. Ngoảnh lại, anh đã bị nhà thơMường dí nắm đấm sát ngay cái trán hói:

– Mày giết tao.

Vương Anh rên rỉ. Hào Vũ cười hì hì.Và còn nhiều chuyện khác nữa…

Nghịch, ham vui, nhưng với lao động nghề nghiệp Hào Vũ hết sức nghiêm túc. Dạo ấy anh đang viết tiểu thuyết. Đêm nào cũng vậy, sau màn thả lưới buông câu trong biển người đẹp của trường Đại học Văn hóa,đúng chín giờ anh ngư dân họ Vũdù tiếc rẻ  nhưng kiên quyếtthu ngư cụ rời ngư trường trở về phòng lôi máy chữ rangồi vào bàn làm việc. Đều đặn mỗi đêm hai tiếng đồng hồ, cuối năm trong lúc cánh làm thơ chúng tôi mỗi ngườichỉ có dăm bảy bài thơ trình làng thì anh đã có cả một tập sách dày cộm. Đấy chính là tiểu thuyết “Đất không giấu mặt” viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ của  nhân dân ta ở một vùng giáp ranh.

Về cốt truyện, “Đất không giấu mặt” không có gì đáng chú ý cho lắm. Ấy thế mà đọc lại cuốn hút, thậm chí nhiều chương, đoạn say mê, vì trong đó nhiều nhân vật, nhiều số phận được tác giả tái hiện rất sống, gần gũi với đời thường. Bình là một ví dụ. Ở những chương mở đầu, Bình là người thật tốt. Chiến đấu giỏi, thương yêu đồng đội, biết trọng những người hơn mình về mặt này mặt khác, cư xử với người yêu cũng thật dịu dàng và có văn hóa, dù anh tự nhận “trình độ văn hóa không đủ viết một bức thư tình cho mùi”. Đùng một cái, chỉ trong một thoáng buông lỏng suy nghĩ mà anh phạm khuyết điểm về quan hệ nam nữ, bị coi là “lợi dụng” một thiếu nữ đang khao khát yêu đương, bị coi là “có tư tưởng sống gấp”. Đang trong tâm trạng hoang mang trước khuyết điểm và sự khinh rẻ của bạn bè, anh được một người chỉ huy du kích đáng khâm phục và khéo nói rủ rê về du kích. Thế là anh bỏ đơn vị, đào ngũ (có lẽ dùng từ đảo ngũ chính xác hơn). Về cơ sở mới, anh vẫn phát huy tốt những phần tốt đẹp mà anh có, vẫn chiến đấu dũng cảm và thông minh, vẫn vững vàng trong những tình huống hiểm nghèo, nhưng lòng tự trọng của người lính luôn là một mũi tấn công quyết liệt, dằn vặt anh, khuấy đảo những ý nghĩ của anh, mỗi lần nhìn lại những hành động thiếu chín chắn của mình…

Tôi không nghĩ Bình là hóa thân của Hào Vũ, nhưng  những nét tương đồng giữa tác giả và nhân vật khiến tôi cứ nghĩ khi xây dựng nhân vật Bình, không ít chỗ nhà văn viết “tự truyện”. Bởi cả hai – tác giả và nhân vật đều là lính chủ lực ở Bắc vào, sau nhiều biến động, nhân vật đảo ngũ thành du kích, tác giả đảo ngũ thành bộ đội địa phương của tỉnh đội Long An. Chính quãng đời gần chục năm gắn bó với mảnh đất cửa ngõ của miền Tây Nam bộ trong chiến tranh đã khiến anh ngày đất nước thống nhất quyết định gắn bó trọnđời với nó, dù sau này có không ít cơ hội chuyển công tác ra Hà Nội hoặc lên thành phố Hồ Chí Minh. Đất không phụ người, sau “Đất không giấu mặt”,đều đặn  vài ba năm anh lại cho ra đời một tậptiểu thuyết,truyện dài viết về đất và người vùng Tân An, Đồng Tháp. Đấy là những “Nữ sinh biệt động” (truyện dài, 1987); Ly dị (tiểu thuyết, 1989); Mưa lạnh (tiểu thuyết, 1992); Xa xăm (tiểu thuyết, 2010)… Những tác phẩm  góp phần làm nên tên tuổi Hào Vũ, khiến trong chừng mực nào đó anh được nhiều người nhìn nhận như một nhà văn chuyên viết tiểu thuyết.

Thực ra không phải vậy, như hầu hết nhà văn ở nước ta (và có lẽ cả ở nước ngoài), Hào Vũ bắt đầu văn nghiệp bằng truyện ngắn và gặt hái nhiều thành công. Truyện ngắn đầu tay“Hai ông cháu”,giải thưởng truyện ngắn của Tạp chí Quân giải phóng miền Namnăm 1970. Truyện ngắnMàu xanh Vàm Cỏ Tây, giải thưởng truyện ngắn báo Văn Nghệ Hội Nhà văn Việt Nam năm 1979; truyện Khách thương hồ, giải thưởng truyện ngắn mini tạp chí Thế giới mới năm 1994; truyện ngắn Điều ấy đã không xảy ra, giải thưởng truyện ngắn tạp chí Tác phẩm mới năm 1995…

Đọctruyện ngắn của HàoVũ, thấy rõ anh rất quan tâm đến cái nềncủa câu chuyện.Có cảm tưởng khi bắt tay vào viết, trước tiên Hào Vũ chọn điểm nhìn. Sự phát triển của truyện không do các sự kiện chi phối. Chi tiết sự kiện chỉ là cái nền, cái cớ để nhân vật bộc lộ tâm trạng. Truyện ngắn Cây gừa là một dẫn chứng. Đặt điểm nhìn vào nhân vật Nành,vợ một lính ngụy chết trận,bước vào đời sống xã hội mới ,với bao mặc cảm nặng nề. Câu chuyện đã làm bật lên những mảng sáng tối của bức tranh xã hội sau ngày giải phóng. Truyện ngắn Khách thương hồ cũng được tổ chức như thế. Các nhân vật trong truyện không có tên riêng,chỉ là chị,gã. Họ không chỉ nói với nhau mà còn nói với một người vô hình nào đó. Có khi điểm  nhìn  trần  thuật cũng được dịch chuyển : “Tại sao anh bị mất giò? Câu hỏi cũ lại mấp máy nơi khóe miệng,nhưng sau cùng chị đã không hỏi.” Cũng cần nói thêm là,ở truyện ngắn này,bằng cách không xuống dòng các câu đối thoại, ngôn ngữ tác giả và ngôn ngữ nhân vật được trộn lẫn tạo ra một hiệu ứng nghệ thuật thú vị.

Không phải là một nhà nghiên cứu văn học nên tôi không có điều kiện so sánh đối chiếu, nhưng từ Hào Vũ tôi thấy trong đời sống văn học nước ta giữa thế kỷ 20 đến naycó một dòng chảy văn học của những người miền Bắcsinh sống ở Nam bộ viết về Nam bộ. Dòng chảy này khai sinh đồng thời với những cuộc chuyển cư diễn ra trong dân sinh và thế sự đất nước, đặc biệt rõ là năm 1954 khi hàng loạt giáo dân bỏ quê hương xứ sở ở miền Bắc lên đường “theo Chúa vào Nam” và trong kháng chiến chống Mỹ.Từ những sáng tác của lớp nhà văn này, văn hóa vùng đồng bằng sông CửuLong  được phản ánh qua cái nhìn của người viết thuộc vùng văn hóađồng bằng  sông Hồng. Thực tế đã cho thấy có nhiều điều thú vị ởvùng đất này  nhưng người viết thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long bỏqua hoặc kể lại mộtcách tẻ nhạt. Có lẽ đó là những cái mà người Nam bộ thấy nó quá quenthuộc đến nhàm chán chăng?

Hãy đọc thử một vài bài viết của phóng viên nước ngoài viết về ViệtNam được dịch ra tiếng Việt in trên báo trong nước, ta sẽ thấy thú vịdù đó chỉ là những cái ta thường gặp hàng ngày. Theo tôi nó thú vị làbởi  các câu chuyện, hình ảnh quen thuộc được tác giả quét lên một lớpsơn mới, lớp sơn văn hóa của một vùng đất khác.Đọc Hào Vũ thấy rõ điều này. Cái khác lạ,độc đáo của phong cảnh sông nước miền Tây Nam bộtạo cảm hứng cho anh.Không khí truyện của anh rất Nam bộ, từ tên đất, tên người, cách nói chuyện giàu phương ngữ, đến những chi tiết tưởng vu vơ. Chính vì vậy mà tôi bịMàu xanh Vàm Cỏ tây của anh mê hoặc, khiến năm 1984 phải cắt phép năm để từ Nghệ Anlặn lội tàu xe vào Long An cho biết. Lần ấy Hào Vũ  dặn tôi đi đâu thì đi, đến bữa phải về ăn cơm nhà anh nấu ở Hội Văn Nghệ tỉnh. Tôi nghe lời và thấy trong lúc vợ bận nấu nướng, Hào Vũ không phụ một tay thì chớ lại nhảy sang mâm nhà khác tán chuyện (chả là Hội Văn Nghệ tỉnh không có nhà ăn. Gia đình cán bộ Hội nào thì vợ chồng cũng đều là công chức, để kịp giờ làm chiều mỗi nhà gầy một bếp ngay trong cơ quan). Khi cơm chín tới, đang bày mâm bát, vợ anh lại phải ngừng tay sang mân nhà hàng xóm lôi chồng về. Nhưng  cô đã  bắt cóc bỏ đĩa, bởi bê được mâm cơm vào thì chồng đã lại biến đâu mất, cô đành lại phải sang mâm hàng xóm lôi về lại. Mấy lần như thế. Ngồi vào mâm, vợ anh bảo chồng bưa, thời gian eo hẹp không giúp được gì cho vợ thì chớ lại gây cản trở, khiến cô trưa nào cũng cập rập. Nghe vợ càm ràmbằng cái giọng Quảng Trị chay, Hào Vũ ngẩn người, kết luận:

– Nói như Tây!

            Tôi phải “phiên dịch” cho anh hiểu hết cái hay cái đẹp ẩn trong phương ngữ Quảng Trị của vợ anh. Buổi chiều, đến lượt anh “phiên dịch” cho tôi hiểu hết cái hay cái đẹp ẩn trong phương ngữ Nam bộ. Ấy là khi chúng tôi ra bến đò thị xã để làm một chuyến ngược nguồn Vàm Cỏ tây về Vĩnh Hưng, Đồng Tháp. Lên đò, thấy mấy bà mấy cô gồng gánh luớ quớ trước mặt, tôi hối:

            – Dô… dô!

            Hào Vũ cười:

            – Tới chớ sao lại dô.

            Lâu sau thấy mấy bà mấy cô vẫn luần quần luẩn quẩn, tôi hối tiếp:

            – Tới… tới!

            Hào Vũ cáu:

            – Tới cái đầu mày, lúc này là phải nói dô, dô chớ.

            Cuối cùng thì mấy bà mấy cô cũng đặt gánh xuống, và tôi chẳng biết để được vậy họ đã “tới” hay “dô” nữa.

Đang lúc thủy triều lên, Vàm Cỏ tây rộng mênh mông, nước xanh biêng biếc. Hào Vũ bảo khi thủy triều xuống, nước sông chuyển màu vàng đục và đấy là điểm đặc trưng của hai con sông Vàm Cỏ so với các con sông khác của Tây Nam bộ. Anh còn nói nhiều điều nữa. Tôi nghe câu được câu mất, vì đang bị vẻ đẹp của dòng sông hút hồn…

***

Viết đến đây, đáng lẽ phải nói về “Xa xăm” tiểu thuyết xuất bản gần đây nhất của Hào Vũ, tôi bỗng muốn trở lại với “Đất không giấu mặt”, tiểu thuyết đầu tay của anh ngày nào. “Dấu hiệu chắc chắn của bất kỳ một cuốn sách hay nào, đấy là khi ta càng lớn tuổi ta càng thấy yêu thích nó hơn – Charles Darwin”.

Đọc lại “Đất không giấu mặt” tôi rất phục tác giả trong nhân vật  Mười Lê.  Mười Lê là một chỉ huy du kích có tài, dũng cảm và táo bạo. Anh biết chăm lo gia đình, lại là người hết lòng yêu thương săn sóc đồng đội. Dưới con mắt nhân dân trong xã, anh còn là một cán bộ giàu sức thuyết phục, nhưng giữa anh và bà Chín Kiếng vẫn âm ỉ một mâu thuẫn, một đối lập. Đó là sự tranh chấp về đất đai. Quyền tư hữu về đất đai, với người nông dân là vấn đề không dễ gì nhượng bộ. Những mâu thuẫn âm ỉ Mười Lê trong kháng chiến, ngày nay khi đất nước chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường đã bùng phát dữ dội, trở thành một vấn đề lớn mang tầm vóc xã hội và chi phối mọi gia đình, gây nên không ít những bi kịch đau lòng.

Nếu là một nhà văn sinh trưởng trong môi trường sự sở hữu tư nhân về đất đai được thừa nhận thì đó là điều bình thường. Nhưng Hào Vũ sinh ra, lớn lên ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Nơi tất cả, (đặc biệt là đất đai) đều đã hợp tác hóa. Nơi một cậu bé trong trí tưởng tượng nhặt được một hào bạc của ai đó đánh rơi cũng đem nộp lại công an, lớn một chút thì đi bộ đội, đánh giặc hết trận này đến trận khác, trở thành “Thư ký của thời đại”luôn có được cái nhìn nhạy bén, ấy là donhà văn có văn tài. Trong quan hệ giữa văn chương với người viết, nếu cần nói một câu chuẩn xác về anh, theo tôi,văn chương đã chọn Hào Vũ và đấy là sự chọn lựa chính xác.

TP. Hồ Chí Minh, 4-9-2013

N.X.H

Advertisements

About hoingovanchuong

Nhà văn
Bài này đã được đăng trong 03.Chuyện làng văn, 05.Phê bình-lý luận, 16.Bài báo và được gắn thẻ , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s