NGUYỄN DU – NGƯỜI ĐI SĂN NÚI HỒNG

TS PHẠM  TRỌNG  CHÁNH

NguyenDuTHONguyễn Du về Hồng Lĩnh trong khoảng thời gian 1794-1796 cùng em Nguyễn Ức với nhiệm vụ được anh Nguyễn Nể giao phó : xây dựng lại từ đường họ Nguyễn Tiên Điền, làng Tiên Điền, đình, chùa Trường Ninh, cầu Tiên. Nguyễn Nể(1761-1805) bận công việc quan về Phú Xuân giữ chức Đông Các đại học sĩ, gia tặng Thái sử, thự Tả Thị Lang, tước Nghi Thành Hầu, chức vụ dâng sách cho vua Cảnh Thịnh mới lên mười hai tuổi ,đọc và giảng nghĩa cho vua nghe sách Tiểu Học Diễn Nghĩa do La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp và Sùng Chính Viện vừa mới soạn xong. Ngoài ra còn các công việc giúp vua soạn các chiếu biểu, và kiêm các công việc Cơ Mật Viện, và chức vụ cuối cùng được thăng tới chức  Trung Thư lĩnh hữu đồng nghị, chức vụ ngang hàng với quân sư Trần Văn Kỷ. Nguyễn Nể làm các công việc làm thầy dạy và quân sư cho vị vua trẻ. Nguyễn Nể không thể giao công việc xây dựng lại làng Tiên Điền này cho ai ngoài hai em cùng cha cùng mẹ.

 Nguyễn Du được ông anh cả Tiến Sĩ Nguyễn Khản hơn 31 tuổi nuôi dưỡng, khi cha, mẹ mất năm 10, 12 tuổi. Nguyễn Du chịu ảnh hưởng ông anhcả cái tài hoa làm thơ Nôm, nhân gian thường truyền tụng các bài hát mới quan Thượng Thư Bộ Lại. Nguyễn Ức chịu ảnh hưởng người anh cả cái tài khéo tay vẽ kiểu xây dựng dinh thự, cung điện. Tất cả việc xây dựng cung vua phủ chúa, cho đến việc thiết trí các hòn non bộ chúa Trịnh Sâm đều giao phó cho Nguyễn Khản. Tiếc thay các công trình xây dựng của Nguyễn Khản cùng sự nghiệp 243 năm các chúa Trịnh. đều bị vua Lê Chiêu Thống sai người đốt cháy hàng tháng trời, sau khi chúa Trịnh Bồng trốn khỏi phủ. Việc xây dựng lại làng Tiên Điền chủ yếu là Nguyễn Ức, người có tài xây dựng, thời Gia Long, Minh Mạng giữ chức Thiêm Sự Bộ Công là người vẽ kiểu,điều khiển việc xây dựng kinh thành Huế.. Nguyễn Du ở cạnh bến sông Quế Giang, cạnh Giang Đình để tiếp nhận gỗ, gạch, vật liệu chở về theo đường sông .

  1. I.       Cuộc sống Nguyễn Du bên bờ sông Quế Giang :

                Làng Tiên Điền sau cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quýnh bị giết năm 1791, cả làng bị làm cỏ,  và đốt cháy rụi  bởi Trấn Thủ Tây Sơn Lê Văn Dụ. Dinh thự Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm bị dùng mỡ heo đốt  thành tro khói. Thư viện họ Nguyễn Tiên Điền chứa hàng vạn quyển sách không thua gì thư viện Trường Lưu họ Nguyễn Huy, mười phần chỉ còn một hai. Nguyễn Du về quê cha đất tổ, trên một bãi chiến trường còn sót lại, không vợ con, không công danh sự nghiệp nên vẫn xem ba năm ở Tiên Điền là thời gian gió bụi. Các bài thơ làm ở Hồng Lĩnh, cho thấy Nguyễn Du sống độc thân trong một gian nhà tranh, bên bến sông, bốn vách là sách vở thư viện Nguyễn Tiên Điền còn sót lại. Những chồng sách nằm chống đỡ thân bệnh, bên đèn nhấp rượu cho hồng hào dung nhan. Suốt ngày trên bếp không đun lửa. Ngoài song no với khóm cúc vàng. Những chi tiết này bác bỏđiều các sách vở chép Nguyễn Du có vợ họĐoàn năm 17 tuổi, nếu Nguyễn Du đã có vợ thìít ra cũng có người làm bếp núc trong thời gian này. Sở dĩ Nguyễn Du có vợ muộn năm 30 tuổi  vì anh Nguyễn Khản, người nuôi nấng Nguyễn Du từ năm 1780 hết bị tù tội vì vụán Trịnh Tông, lại bị kiêu binh phá dinh thự và mất năm 1786. Người anh thứ hai Nguyễn Điều cũng mất cùng năm. Từđósau cuộc khởi nghĩa ở Tư Nông Thái Nguyên thất bại, bị bắt  được tướng Vũ Văn Nhậm tha không giết. Nguyễn Du đi giang hồ ba nămở Trung Quốc cùng Nguyễn Đại Lang.  Ba năm trở về Thăng Long, câu cáở Gác Tía của anh, cạnh đền Khán Xuân, yêu cô hàng xóm Xuân Hương Hồ Phi Mai.

 Trở về Tiên Điền, Nguyẽn  Du bị bệnh mười tuần (ba tháng mười ngày) vào cuối năm 1794 trên bến sông Quế Giang(Sông Lam) .

                Ba bài Tạp ngâm cho ta thấy cảnh sống nhà thơ tại bên bờ sông Quế Giang.

Bài I : Tiếng thu một tối vượt qua sông Lam, không bóng không hình lọt vào nhà ta. Gió Tây muôn dậm làm cho mái tóc thêm bạc (Quân Tây Sơn ra Bắc làm cho Nguyễn Du lo lắng mà bạc tóc). Sắc thu đầy trên cửa sổ trên khóm hoa vàng. Cuộc vui buồn trăm năm bao giờ hết ? Sách vở đầy bốn vách, bao nhiêu cũng vừa. Trước sân trồng một cây tùng cao trăm thước, không biết chúa Xuân sẽ làm gì được người (trồng cây). Bài này cho thấy số sách vở họ Nguyễn Tiên Điền không cháy hết còn lại 1,2 phần mười mà vẫn còn lại một số chất đầy bốn vách. Đáng tiếc nhất là bộ sưu tập thơ văn của Đoàn thịĐiểm của cụ Nguyễn Nghiễm bị cháy.

TẠP NGÂM I

Tiếng thu một tối vượt Lam Hà,

Vô ảnh vô hình đến với ta.

Muôn dậm Tây phong đầu bạc tóc,

Một song thu sắc cúc vàng hoa.

Trăm năm vui khổ bao giờ hết,

Bốc vách thi thư mấy cũng vừa.

Trước ngõ cội tùng trăm thước đứng,

Chúa Xuân ghen có được gì   a ?

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

TẠP NGÂM I

Thu thanh nhất dạ độ Lam hà,

Vô ảnh vô hình nhập ngã gia.

Vạn lý Tây phong lai bạch phát,

Nhất song thu sắc tại hoàng hoa.

Bách niên ai lạc hà thời liễu ?

Tứ bích đồ thư bất yếm đa.

Đình thực cô tùng cao bách xích,

Bất tri thanh đế nại nhân hà ?

Chú thích:

Lam hà : tức sông Lam

Thanh đế: thần mùa xuân, còn gọi Đông đế hay Đông quân. Ý nói cây thường xanh tươi mùa xuân, tiêu điều rụng lá mùa thu, nay trồng một cây tùng xanh tươi suốt năm, chẳng hay chúa Xuân có làm gì được người trồng cây tùng không ?

Xích:  thước đo ngày xưa bằng ba gang tay.

Bài Tạp ngâm  II:  Đầu sông Long Vĩ có một gian nhà, ởẩn buồn đến cực độ, bỗng thấy vui. Cõi lòng người khoáng đạt sáng tỏ như vầng trăng. Trước cửa nhàẩn dật toàn là núi xanh. cạnh gối có chồng sách đỡ tấm thân bệnh tật. Trước đèn uống chén rượu cho vẻ mặt tiều tụy vui tươi  lên. Suốt ngày bếp không đỏ lửa, ngoài cửa sổ hoa cúc vàng tươi tốt có thểăn được. Bài viết này thêm một bằng chứng Nguyễn Du còn độc thân.

TẠP NGÂM II

Long Vĩ đầu sông nhà một gian,

Ẩn sầu chót vót bỗng vui tràn.

Đạt nhân lòng tỏ như trăng sáng,

Xử sĩ trước nhà vọng núi xanh.

Gối sách đỡ thân nằm bệnh tật,

Bên đèn rượu nhắp thắm dung nhan.

Suốt ngày bên bếp không đun lửa,

Ngoài song no với khóm hoa vàng.

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ

Nguyên tác phiên âm Hán Việt

TẠP NGÂM  III

Long Vĩ giang đầu ốc nhất gian,

U cư sầu cực hốt tri hoan.

Đạt nhân tâm cảnh quang như nguyệt,

Xử sĩ môn tiền thanh giả san.

Chẩm bạn thúc thư phù bệnh cốt,

Đăng tiền đẩu tửu khởi suy nhan.

Táo đầu chung nhật vô yên hỏa,

Song ngoại hoàng hoa tú khả xan.

Bài Tạp ngâm III: Tháng tám cảnh thu già lặng lẽ, khí trời mênh mang nửa rạm mây nửa nắng. Bụi trúc cao gió thổi, tiếng sáo trời nổi lên, hoa cúc sau trận mưa, rơi xuống rắc hoa vàng trên mặt đất. Khí lạnh rặng núi xa thấm vào giấc mộng người du tử. Nước đầm trong suốt giống như lòng chủ nhân. Ra trước cửa thong thả ngắm sắc thu, thấy một nửa trên dải rừng phong mé đầu sông.

TẠP NGÂM III

Tháng tám thu tàn vương mác man,

Khí trời nửa nắng mây mênh mang.

Gió đùa cao trúc trời vang sáo,

Mưa ướt  hoàng hoa đất rãi vàng.

Núi lạnh gió lùa du tử mộng,

Đầm sâu trong suốt chủ nhân lòng.

Cửa ngoài dạo gót nhìn thu sắc,

Thoáng nửa đầu sông, rừng lá phong.

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

TẠP NGÂM III

Mạc mạc thu quang bát nguyệt thâm,

Mang mang thiên khí bán tình âm.

Thu phong cao trúc minh thiên lại,

Linh vũ hoàng hoa bố địa câm (kim).

Viễn tụ hàn xâm du tử mộng,

Trừng đàn thanh cộng chủ nhân tâm.

Xuất môn từ bộ khan thu sắc,

Bán tại giang đầu phong thụ lâm.

Bài Tạp thi I  Ghi lại tâm sự Nguyễn Du: Tráng sĩ bạc đầu bùi ngùi ngẫng nhìn trời, hùng tâm sinh khí mờ mịt cả hai. Chuyện tình với cô Xuân Hương làng Nghi Tàm, cô Cúc làng Trường Lưu thành chuyện hão. Lần lửa đông rét hè nóng, cướp cả tuổi trẻ. Dắt chó vàng mãi vui thú dưới Hồng Lĩnh. Trông mây trắng nằm bệnh bên bờ sông Quế. Ở thôn quê, thích được mua rượu luôn. Trong túi hãy còn ba mươi đồng tiền.

TẠP THI I

Bạc đầu tráng sĩ ngẩng trời than !

Đựng nghiệp, mưu sinh thảy lỡ làng.

Thu cúc, xuân lan thành mộng ảo,

Hạ nồng, đông lạnh cướp ngày xanh.

Chó vàng vui thú quanh Hồng Lĩnh,

Mây trắng, nằm đau cạnh Quế Giang.

Vẫn thích làng quê hằng có rượu,

Ba mươi tiền sẵn túi con mang.

Thơ chữ Hán Nguyẽn Du, Nhất Uyên dịch thơ.

Nguyên tác phiên âm Hán Việt :

TẠP THI I

Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên,

Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên.

Xuân lan, thu  cúc thành hư sự,

Hạ thử đông hàn đoạt thiếu niên.

Hoàng khuyển truy hoan Hồng Lĩnh hạ,

Bạch vân ngọa  bệnh Quế Giang biên.

Thôn cư bất yếm tần cô tửu,

Thượng hữu nang trung tam thập tiền.

Bài Tạp Thi II. Non Hồng một màu soi bóng xuống làn nước phẳng, nơi thanh tú tĩnh mịch này, kẻ hàn sĩ có thểở được. Mây trắng từ ngàn dậm đến bay in bóng trên giường chiếu, Trăng sáng soi qua cửa sổ chiếu vào cặp sách túi đàn. Nguyễn Du luôn có bên mình thanh gươm và cây đàn nguyệt. Lúc loạn lạc cười khóc cũng theo đời. Thân  già yếu nên yên lặng để giữ mình. Chuyện đời trước mắt thay đổi như hoa nở lá rụng. Quanh năm cõi lòng vẫn thản nhiên như không .  Tình hình Hồng Lĩnh từ sau cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quýnh, công an quận công Thận đang kiểm soát gắt gao, tai vách mạch rừng, nói gì cũng phải cẩn thận, cười khóc phải theo thời, thiên hạđang cười mà mình khóc, thiên hạđang khóc mà mình cười công an bắt ngay !. Từ khi vua Quang Trung mất, chúa Nguyẽn Ánh nổi dậy đang hùng cứ Nam Hà, chuyện đời sẽ đổi thay như hoa nở lá rụng .

TẠP THI  II

Núi Hồng soi bóng nước xanh trong,

Hàn sĩ nơi đây ẩn cảnh nhàn.

Ngàn dậm mây về quanh chiếu chỏng,

Một song trăng sáng rọi thư đàn.

Khóc cười thời loạn theo trần thế,

Bệnh yếu lặng câm mà giữ thân,

Trước mắt nở hoa rồi rụng lá,

Bốn mùa thanh thản có như không.

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

TẠP THI II

Hồng Sơn nhất sắc lâm bình cừ,

Thanh tịch khả vi hàn sĩ cư.

Thiên lý bạch vân sinh kỷ tịch.

Nhất song minh nguyệt thướng cầm thư.

Tiếu đề tuẫn tục can qua tế,

Giam mặc tàng sinh lão bệnh dư.

Diệp lạc hoa khai nhãn tiền sự,

Tứ thời tâm kính tự như như.

                Trong thời gian ở Hồng Lĩnh,Nguyễn Du trao đổi thơ với Hồ Xuân Hương (Xem Phạm Trọng Chánh, Đi tìm Cổ Nguyệt Đường và mối tình Hồ Xuân Hương Nguyễn Du trên các site Vanhoanghean, chimvietcanhnam, khoahocnet..). Nguyễn Du chia tay với Xuân Hương Hồ Phi Mai nơi Thạch Đình đình đá bến  Vị Hoàng (Nam Định) Nguyễn Du đã ứng khẩu  bài Thạch Đình tặng  và Hồ Xuân Hương đã đáp lại bằng bài Họa Thanh Liên (Chí Hiên) nguyên vận. Hồ Xuân Hương viết cho Nguyễn Du 17 bài thơ và Nguyễn Du gửi Hồ Xuân Hương 11 bài. Câu xướng và thơ họa ý tứ và từ ngữăn khớp nhau:Bài Thu Dạ I Nguyễn Du  cho biết mình bị bệnh:Cùng niên ngoạ bệnh Quế Giang tân (Cuối năm nằm bệnh bến Quế giang). Hồ Xuân Hương trả lời bằng bài Thu vũ, khóc thương chàng: Đoãn trường khô thụ chi đầu lệ (cây khô dài ngắn tuôn hàng lệ) Thâm khuê tối khổ như hoa diện, Nhất phiến sầu dung họa bất thành (Khuê phòng riêng khổ người nhan sắc, Một phiến sầu vương vẽ chẳng thành).  Bài Cố kinh thu nhật, Xuân Hương viết: Đăng nguyệt thanh chiên bi cổ vật (Đèn nguyệt chăn xanh thương vật cũ;  Nguyễn Du trả lời lại bằng bài Khai song: Thanh chiên cựu vật khổ trân tích (Chăn xanh vật cũ khư khư giữ).  Bài Thu nhật tức sự, Hồ Xuân Hương viết: Tây phong tạc dạ áp hàn chi (Đêm qua lành lạnh gió Tây về), Nguyễn Du bài Thu Nhật ký hứng trả lời: Tây phong tái đáo bất quy nhân (Gió Tây mới đến khách chưa về), Gió Tây là quân Tây Sơn. Nguyễn Du viết bài Ký Mộng: Mộng lai cô đăng thanh, Mộng khứ hàn phong xuy. Mỹ nhân bất tương kiến Nhu tình loạn như ti (Mộng đến đèn côi sáng, Mộng tan gió lạnh lùng, Giai nhân nào thấy nữa, Lòng ta rối tơ vương). Hồ Xuân Hương nhắc lại trong bài: Cảm cựu kiêm trình.. Giấc mộng rồi ra nửa khắc không. Nguyễn Du viết bài Độc Tiểu Thanh Ký: Tây Hồ hoa uyển tẩn thành khư. (Tây Hồ vườn cảnh đã hoang vu, vì thiếu nàng chăm sóc) Hồ Xuân Hương dứt tình Tổng Cóc trở về trả lời bằng bài Chơi Tây Hồ nhớ bạn: Phong cảnh Tây Hồ chẳng khác xưa, Người đồng châu trước biết bao giờ..

                Thuyền Nguyễn Du từ giả bến Thạch Đình sông Vị Hoàng, Sơn Nam Hạ,( Nam Định)ra đi và về đến bến Giang Đình làng Tiên Điền. Giang Đình là một trong 8 cảnh đẹp huyện Nghi Xuân.

                Về bên bến Giang Đình, Nguyễn Du nhớ lại nơi này năm Tân Mão (1771) triều Lê năm ấy Nguyễn Du lên sáu tuổi. Cụ Nguyễn Nghiễm (1708-1776) tể tướng xin về hưu được thăng Đại Tư Đồ. Chúa Trịnh cho ba chiếc thuyền hải mã đưa về làng, cụ làm quan to nên có xe tứ mã, bốn ngựa kéo, có lót cỏ bồ cho êm. Quan trấn thủ, quan huyện địa phương cũng cho đoàn thuyền đón rước, thuyền xô nước như rồng đấu nhau, tàn lộng phất phới như chim hạc bay báo điềm lành. Ngày đón rước như hội vui chưa từng thấy ghi sâu trong ký ức ngày Nguyễn Du mới sáu tuổi. Từ độ ấy áo xiêm không còn thấy nữa. Hai bên bờ cây cỏ ngậm ngùi nhớ thuở xa xưa. Trăm năm cuộc đời có biết bao nhiêu việc thương tâm. Gần đây, nơi kinh đô cũng đã khác lắm rồi. Sau đó năm 1774 cụ Xuân Quận Công lại được triệu ra phong Tả Tướng Quân, cùng Hoàng Ngũ Phúc đi đánh chúa Nguyễn. Trận chiến thắng vẻ vang chiếm được Phú Xuân, nhưng năm 1775 cụ bị bệnh dịch, đưa về làng dưỡng bệnh, cụ mất năm Nguyễn Du mới lên mười.  Đây là kỷ niệm duy nhất Nguyễn Du viết về cha mình, năm 28 tuổi.

CẢM XÚC THẤY CẢNH GIANG ĐÌNH

Chạnh nhớ cha ta xưa cáo lão,

Xe bồ ngựa tứ bến sông này.

Thuyền tiên lướt lướt như rồng đấu,

Tàn lộng dập dìu ngỡ hạc bay.

Từ độ áo xiêm không thấy nữa,

Hai bờ cây cỏ chạnh sầu bi, 

Trăm năm buồn biết bao tâm sự,

Nay chốn Trường An khác những ngày.

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nhất Uyên dịch thơ

Nguyên tác phiên âm Hán Việt:

GIANG ĐÌNH HỮU CẢM

Ức tích ngôông tạ lão thì,

Phiêu phiêu bồ tứ thử giang mi.

Tiên chu kích thủy thần long đấu,

Bảo cái phù không thụy hạc phi.

Nhất tự y thường vô mịch xứ,

Lưỡng đê yên thảo bất thăng bi.

Bách niên đa thiểu thương tâm sự,

Cận nhật Tràng An đại dĩ phi.

Chú thích:

Giang đình: Cái đình bên bến sông Lam gần làng Tiên Điền. Ngày xưa trên đường cái quan cứ một đoạn đường khoảng5 dậm cất đoãn đình,  10 dậm cất một cái đình gỗ, gạch gọi là trường đình, trên bến sông cất giang đình, và miền biển vì gió biển, giông bão nên cất đình bằng đá gọi là thạch đình.Đình là nơi nghĩ ngơi các phu chạy ngựa trạm nghỉ ngơi đổi phiên, đổi ngựa, gửi chiếu lệnh triều đình về phủ huyện và các biểu, tấu  ngược lại tâu lên triều đình. Trên sông biển được đi bằng thuyền.

Bồ tứ: bồ luân, xe bọc cỏ bồ cho êm. Ngày xưa vua dùng xe bồ luân đểđi đón người hiền tài, tỏý tôn kính. Xe tứ mã, bốn ngựa ngày xưa dùng cho người làm quan to, nhà cao sang.

About hoingovanchuong

Nhà văn
This entry was posted in 03.Chuyện làng văn, 12.Tư liệu and tagged . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s