KỶ NIỆM VỀ HỒ CHỦ TỊCH CỦA BỘ TRƯỞNG TƯ PHÁP ĐẦU TIÊN

VŨ TRỌNG KHÁNH 

Bộ trưởng Bộ Tư pháp đầu tiên, luật sư Vũ Trọng Khánh từ giã sự nghiệp pháp luật, tư pháp để đi vào cõi vĩnh hằng đã mười tám năm, để lại nỗi tiếc thương, sự khâm phục của thế hệ cán bộ tư pháp hôm nay về tấm gương của một người cán bộ tư pháp suốt đời cống hiến cho sự nghiệp cách mạng, cho sự nghiệp luật học, sự nghiệp tư pháp.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và luật sư Vũ Trọng Khánh - Bộ trưởng Bộ Tư Pháp (ngoài cùng, bên trái)

Chủ tịch Hồ Chí Minh và luật sư Vũ Trọng Khánh – Bộ trưởng
Bộ Tư Pháp (ngoài cùng, bên trái)

Sinh thời, Ông là người học trò tin cậy, được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm dìu dắt, trở thành một trong những cán bộ cốt cán đầu tiên trong chính quyền dân chủ nhân dân, trong bộ máy tư pháp được xây dựng từ sau Cách mạng tháng Tám.

Năm 1994, một năm trước khi qua đời, luật sư Vũ Trọng Khánh đã viết tập hồi ký, ghi lại kỷ niệm của mình về Bác. Dưới đây là trích đoạn hồi ký của ông.

…Hồ Chủ Tịch đọc Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam trước quốc dân đồng bào, trước thế giới xong thì lãnh đạo mau chóng thành lập Quốc hội dù có phải nhượng bộ 70 ghế cho hai cánh Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Hải Thần. Quốc hội đầu tiên của nước ta được bầu ngày 6/1/1946, họp phiên đầu tiên ngày 2/3/1946 có vai trò một mặt củng cố địa vị đối ngoại của Việt Nam, một mặt làm luật để xây dựng chính quyền quản lý nội bộ Việt Nam.

Nội tình Việt Nam lúc đó hỗn độn, Tưởng Giới Thạch điều quân của Tiêu Văn vào miền Bắc bên ngoài là để giải giáp quân Nhật nhưng kéo theo bọn giả danh cách mạng Việt Nam đang trú ngụ bên Trung Quốc là Việt nam Quốc dân đảng, Việt Nam cách mệnh đồng minh hội để hòng sử dụng chúng làm tay sai nắm quyền cai trị miền Bắc Việt Nam. Mặt khác, quân Pháp cử một số đại diện nhảy dù xuống Hà Nội. Trong khi ở miền Nam thì quân Pháp đi theo quân Anh vào giải giáp Nhật, âm mưu chiếm lại Nam Kỳ.

Ở Hà Nội, Hải Phòng hàng ngày xảy ra tống tiền, bắt cóc, ám sát, nổ súng, quân tàu đòi tiền, đòi giám sát… Đại diện Pháp thì đòi trao đổi ý kiến… Bác thỏa mãn quân tàu về đòi hỏi vật chất và khuyên nhân dân đừng đánh lại chúng, nhưng khi tướng tàu muốn đặt cố vấn bên cạnh Chính phủ Việt Nam thì Hồ Chủ Tịch trả lời: ” Thưa ngài, đối với tôi, chỉ có nhân dân Việt Nam là có quyền giám sát tôi, ngoài ra không có ai được giám sát cả”.          Một mình Bác đi giao thiệp trong Hà Nội trên một ô tô con, có một bảo vệ. Tôi hỏi Bác đi thế sợ nguy hiểm, Bác bảo: ” Chưa việc gì”.

Về phía Pháp, đại diện là Xanh-tơ-ny (Sainteny) nhiều tối hội đàm riêng với Hồ Chủ tịch bên cạnh phòng tôi ở, thỉnh thoảng có anh Hoàng Minh Giám dự cuộc hội đàm, là một ván cờ mà một mình Bác tính nước. Bác ký được với Xanh-tơ-ny Hiệp ước sơ hộ 6/3/1946 là một thiên tài sách lược. Lập tức quân tàu rút hết về nước, chấm dứt nạn sách nhiễu hàng ngày của chúng. Chỉ còn đoàn Pháp, tình hình nhẹ nhõm hẳn đi.

Hiệp ước 6/3/1946 đặt Việt Nam trong Liên hiệp Pháp. Việt Nam có Nghị viện, quân đội, tài chính riêng. Nhưng Pháp không đồng ý ghi Việt Nam là nước tự trị. Cuối cùng Bác đề nghị gọi Việt Nam là nước tự do. Xanh-tơ-ny chấp nhận, còn miền Nam có thống nhất với miền Bắc không thì sẽ trưng cầu ý dân miền Nam.

Sau khi ký Hiệp ước 6/3, Bác thống nhất với Đô đốc Đác-giăng-li-ơ (d’ Argenlieu) đến cuối tháng 5/1946. Việt Nam sẽ cử một phái đoàn sang Pháp đàm phán về mối quan hệ hai nước, Bác cùng đi với danh nghĩa thượng khách. Có ý kiến e ngại Bác đi sang Pháp có thể gặp nguy hiểm. Bác quyết định cứ đi. Việc này cũng như việc một mình Bác đi giao thiệp ở Hà Nội không sợ ám sát là cái khiếu mẫn thính của nhà chính trị lỗi lạc, cảm đoán được chiều hướng của một tình hình trừu tượng gọi là vô trọng lượng, không có gì để cân nhắc được (les imponderables).

Hội nghị đàm phán giữa Việt Nam và Pháp họp ở Phông-ten-bờ-lô (Fontainebleau) thất bại. Phái đoàn Việt Nam do anh Phạm Văn Đồng làm Trưởng đoàn, tôi là một chuyên viên pháp lý xuống tầu thủy về nước. Một gia đình Pháp tỏ ý lo âu nói với tôi:” Không biết chúng có để cho các ông về đến nhà không”?

Một mình Hồ Chủ tịch ở lại Pari, đàm thảo cùng Bộ trưởng Bộ Hải ngoại Mu-tê (Moutet), đến nửa đêm 14/9/1946 mới ký xong một tạm ước. Rồi Bác xuống tầu chiến Đuy-mon Dur-Vin (Dumont Durville) của Pháp về nước. Tôi nghĩ Tạm ước 14/9/1946 đã bảo trợ cho đoàn Việt Nam về nước yên ổn.

Khi tầu Bác đến vịnh Cam Ranh, Cao ủy Pháp là Đô đốc Đác-giăng- li-ơ mời Bác xuống tầu chỉ huy của hắn với lễ nghi long trọng, dàn binh, bắn pháo để phô trương, hòng uy hiếp tinh thần.

Bác vẫn mặc bộ kaki cũ, đội mũ cứng, chống ba toong, đi cùng bác sỹ Trần Hữu Tước (người săn sóc sức khỏe) xuống tầu. Y phục quá tầm thường của Bác trái ngược hẳn với nghi lễ ra oai của Đác-giăng-li-ơ. Tôi nghĩ đó là một sự đối đáp của Bác. Chúng xếp Bác ngồi giữa, một bên là Thống soái lục quân Pháp ở Viễn Đông, một bên là Đô đốc hải quân Pháp ở Thái Bình Dương. Vào tiệc, Đác-giăng-li-ơ giọng bóng gió nói: “Thưa Chủ tịch, thế là ngài được đóng khung thật tốt giữa Lục quân và Hải quân”.

Viên cao ủy nhấn mạnh câu ” đóng khung thật tốt”. Nói xong y và cả bọn cười khoái chí.

Bác mỉm cười, trả lời bằng tiếng Pháp: “Nhưng ngài biết đấy, thưa Đô đốc, chính bức tranh mới đem giá trị lại cho cái khung!”.

Bọn quan thực dân ngồi lịm đi và từ đó không dám giở trò chơi chữ với Bác (theo lời bác sỹ Tước kể lại). Tôi thấy đây là sự đốp chát giữa tư tưởng phản động của một đô đốc hải quân thực dân, nguyên là thầy tu đỗ tiến sĩ thần học và tư tưởng văn hóa hiện đại Á-âu của Bác Hồ. Ngẫm lại ta thấy một mình Bác lo liệu, không ai lúc đó có trình độ hiểu biết, kinh nghiệm thế giới, tinh thần vừa cứng rắn, vừa mềm dẻo để thay Bác được.

Tiếp theo là tranh thủ nhân dân.

Thời gian ở Bắc Bộ Phủ, Bác tiếp khách liên tiếp, trước hết là các chính khách, các nhà báo nước ngoài, không cần phiên dịch. Khách trong nước thì hết đoàn này đến đoàn khác: tôn giáo, thanh niên, trí thức… đến với chủ tâm chất vấn, ra về với tinh thần thỏa mãn. Phỏng vấn Bác, nhà bác Mỹ được nghe nhắc lại Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ, nhà báo Pháp được nghe về Cách mạng năm 1789; nhà báo In-đô-nê-di-a ở phòng Bác ra lẩm bẩm: “Người biết rõ lịch sử nước tôi hơn tôi!”

Khi sang Pháp đàm phán, ngoài Việt kiều, Bác tiếp xúc với các thành phần nhân dân Pháp, kể cả các bác học trong Hội Pháp-Việt hữu nghị đứng đầu là bà Marie Curie danh tiếng. Quan sát, ai cũng thấy vẻ kính trọng của các nhà bác học đầu tóc bạc phơ, của bà Curie khi giới thiệu Bác và cử chỉ nói  năng thu phục lòng người của Bác. Chắc hẳn những hiểu biết của Bác về lịch sử cách mạng Pháp, về nền văn hóa Pháp đã hòa hợp các học giả Pháp với học giả Hồ Chí Minh, từ đó dẫn đến thiện cảm với yêu cầu độc lập của Việt Nam.

Tiếp xúc với thường dân, với các cháu bé, Bác đều thu hút được cảm tình. Một bữa tiệc với khách người Pháp, lúc ăn tráng miệng quả táo, mọi người thấy Bác không ăn táo mà cứ nói chuyện. Lúc đứng dậy, Bác bỏ quả táo vào túi. Các vị khách Pháp hích tay nhau cười! Khi ra ngoài khách sạn Bác không lên xe ngay mà đi đến một cháu bé đang được bế trên tay mẹ, biếu quả táo và nói: ” Đây là quả táo Bác Hồ”. Hôm sau, câu chuyện quả táo Bác Hồ truyền đi khắp nơi. Bác dạy anh em chúng tôi: “Sang nước văn minh, ta cử chỉ như họ thì không ai để ý, phải làm khác đi thì dư luận mới nói đến”. Dư luận lúc đó đã nói đến Bác: “Ông ấy đã chinh phục tất cả Pa-ri”.

Buổi ăn sáng Bác hay tiếp các nhà báo. Có bài báo không thiện cảm với Việt Nam, tác giả tiếp xúc với Bác thì hôm sau đổi giọng. Một hôm một nhà báo muốn làm giảm thiện cảm đối với Bác của những người không ưa cộng sản đã hỏi: “Thưa Chủ tịch, Chủ tịch có phải là cộng sản không?” Bác liền đến lẵng hoa trên bàn, vừa ngắt từng bông hoa tặng mỗi người vừa nói: “Tôi là cộng sản như thế này này”.

Ngay từ khi còn bôn ba hoạt động bí mật, lý tưởng, đạo đức, trình độ văn hóa của Bác đã có sức hấp dẫn kỳ lạ!

Khi Bác bị bắt ở Hồng Kông, luật sư Lô-dơ-bai, người bênh vực Bác, gặp Bác trong nhà tù về đã nói lại với vợ: “Tôi gặp một nhân vật đáng kính phục”. Bà vợ liền vào thăm, rủ cả vợ ông thị trưởng Hồng Kông và cũng bị chinh phục, từ đó hết sức che chở, giúp cho Bác trắng án, rồi bồi dưỡng sức khỏe cho Bác và tổ chức cho Bác cải trang trốn thoát khỏi bọn mật thám Pháp đang câu kết với Hồng Kông để bắt Bác. Khi thất bại chúng tung tin Nguyễn Ái Quốc đã chết.

Chánh mật thám Pháp ở Đông Dương Ác-nu đã nhận xét: “Người thanh niên mảnh khảnh và đầy sức sống này có thể là người sẽ dựng cây thập tự cáo chung nền thống trị của chúng ta ở Đông Dương”.

Năm 1923, nhà thơ Xô viết Man-đen-xtam gặp Bác đã cảm thấy rằng:    “Từ người chiến sĩ Việt Nam trẻ tuổi ấy tỏa ra một thế giới văn hóa, không phải văn hóa châu Âu mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai!”

Bác tập hợp nhân tài xây dựng chính quyền mới. Xây dựng một chính quyền mới từ hai bàn tay trắng đòi hỏi biết bao khôn khéo, thông minh của Bác. Bác không rơi vào quan điểm giai cấp hẹp hòi, chủ nghĩa thành phần mù quáng, chỉ chọn công nông, bất chấp trình độ khả năng, dẫn đến dốt thì dễ tham quyền hám lợi. Tôi hiểu quan điểm dân tộc của Bác là huy động mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam, chọn người giỏi, trong sạch, được lòng dân thì mới làm được việc, mới đoàn kết được toàn dân, loại bỏ chống đối. Bác thu hút cả những quan to của triều đình cũ như các cụ Bùi Bằng Đoàn, Phan Kế Toại, Vi Văn Định, Hồ Đắc Điềm,… Vua Bảo Đại cũng trở thành cố vấn Vĩnh Thụy. Vì mỗi người có một phạm vi ảnh hưởng xã hội.

Đối với tôn giáo, Bác lấy đạo làm người để đánh giá việc thiện của tôn giáo là phù hợp với chính sách phục vụ nhân dân và lôi kéo các tôn giáo cùng vào mặt trận. Bác chú ý nhiều đến giới tri thức, giới khoa học. Ở Pháp về sau khi hội nghị Phông-ten-blô đình chỉ, Bác đưa Trần Đại Nghĩa (tên này do Bác đặt), là một kỹ sư giỏi đã bí mật nghiên cứu các tài liệu mật của Pháp, Đức về chế tạo vũ khí cùng về nước. Nhờ đó trong rừng Việt Bắc kháng chiến, xưởng công binh của ta đã sản xuất được những vũ khí đơn giản mà hiệu lực như ba-dô-ka. Bác sỹ Trần Hữu Tước đã bỏ người yêu (một cô bạn Pháp) theo Hồ Chủ tịch về phục vụ Tổ quốc. Ở trong nước, tôi (luật sư Vũ Trọng Khánh) làm Bộ trưởng Bộ Tư pháp trong Chính phủ lâm thời, luật sư Phan Anh làm Bộ trưởng Quốc Phòng đâu tiên, tiến sĩ khoa văn Nguyễn Văn Huyên, làm Bộ trưởng Giáo dục,…Đã giao nhiệm vụ thì Bác khuyến khích tính chủ động sáng tạo. Bác Hồ đã viết nhiều thư vào Huế mời cụ Huỳnh Thúc Kháng, một nhà báo yêu nước được dư luận quý trọng ra tham chính. Cụ Huỳnh không nhận lời ngay. Một hôm cụ Huỳnh ra Hà Nội nói là để thăm họ hàng, thực ra là để thăm dò, tìm hiểu về Bác. Bác Hồ mời cụ ăn nghỉ tại một phòng gần nơi làm việc của Bác. Hàng ngày cụ Huỳnh được thấy cán bộ đến thỉnh thị và cách giải quyết của Bác, từ đó bị thuyết phục. Khi Quốc hội đầu tiên họp, cụ Huỳnh nhận lời ra họp ngay với Bác và được bầu vào Chính phủ (lời kể của anh Vũ Đình Huỳnh). Khi Bác Hồ đi Pháp đàm phán, Bác đã giao cụ Huỳnh làm Quyền Chủ tịch thay Bác. Cụ Huỳnh lo lắng hỏi cách xử trí trước khó khăn. Bác trả lời: ” Dĩ bất biến, ứng vạn biến “.

Trái lại, cách xử sự với Nguyễn Hải Thần thì khác. Lúc đầu, tình hình Hà Nội chưa ngã ngũ, nhiều người chưa biết Hồ Chí Minh là ai, có người tin Nguyễn Hải Thần là một nhà cách mạng lưu vong sang Trung Quốc. Khi được tin Nguyễn Hải Thần đã vào Lạng Sơn, có ý kiến muốn ngăn cản không cho vào Hà Nội. Hồ Chủ tịch chủ trương cứ để cho ông ta về, lại còn mời làm Phó Chủ tịch nước để nhân dân tiếp xúc và đánh giá ông ta, Chính phủ khỏi mang tiếng hẹp hòi. Sáng hôm Bác Hồ báo cáo với nhân dân trước Nhà hát thành phố về Hiệp ước 6/3, Nguyễn Hải Thần cũng ra mắt, nói chuyện với đồng bào, nhưng tiếng Việt không sõi lại pha tiếng tàu nỵ nỵ ngộ ngộ. Tại nhà riêng, trí thức đến thăm hỏi thì Nguyễn Hải Thần bàn về số tử vi vì ông ta vốn sống bằng nghề tướng số ở Trung Quốc. Thế là mất hết tín nhiệm, Nguyễn Hải Thần cuốn gói rời Việt Nam.

Về phần tôi, khi Chính phủ lâm thời hết nhiệm kỳ, tôi thôi chức Bộ trưởng Bộ Tư Pháp. Nhân dân chuẩn bị bầu Quốc hội đầu tiên thì có cuộc thương lượng giữa các đảng phái. Chức Bộ trưởng Tư pháp được phân cho Đảng Dân chủ Việt Nam. Anh em đến mời tôi gia nhập Đảng Dân chủ mấy lần nhưng không cho biết ý đồ là để tôi giữ chức Bộ trưởng Tư pháp. Anh Võ Nguyên Giáp đến phòng tôi ngủ trưa, tôi đi chỗ khác để anh yên tĩnh nên anh không kịp nói gì với tôi. Tôi không gia nhập Đảng Dân Chủ vì chí hướng là vào Đảng Cộng sản. Do đó, Bộ Tư pháp được chuyển cho anh Vũ Đình Hòe phụ trách. Anh đề nghị tôi làm Thứ trưởng, tôi không nhận. Chủ tâm của tôi là sẽ nhận làm Chưởng lý Bắc Bộ (khi kháng chiến chống Pháp thì làm Giám đốc Tư Pháp liên khu 10) để bắt tay thực hiện tổ chức bộ máy Tòa án theo Sắc lệnh 13 mà tôi đã trình Chính phủ lâm thời và được Hồ Chủ tịch ký. Tôi còn giữ bức “Thư riêng” của Bác tự tay đánh máy gửi cho tôi năm 1948, động viên tôi và anh em thẩm phán, hỏi thăm bà mẹ tôi qua đời, lại thêm bốn câu thơ về việc Cù Huy Cận : “Trọng Khánh giúp Cù Huy, làm được cứ làm đi, chúc các chú thành công, ta không ngăn cản gì.”

Tác phong của lãnh tụ là thế, hễ nhận được thư riêng của cán bộ là tự tay đánh máy trả lời thân mật, ân cần.

            Về đời tư, quên mình vì nước, vì dân, Bác lo toan những việc lớn lao tột đỉnh của đất nước mà đời tư của Bác đơn sơ đến mức không có đời riêng tư.

Bộ quần áo kaki cổ đứng và đôi dép lốp thật tượng trưng cho ý chí xả thân của Bác, không vơ chút nào vào thân mình. Bác ăn uống sơ sài. Ở chiến khu Viết Bắc, đến dự Hội nghị Tư Pháp, Bác không cho làm cơm thết, Bác ngả ra bãi cỏ cơm nắm, lọ cà, lọ thịt kho và gọi tôi cho cùng ăn. Tôi gắp miếng thịt, dai không nhá nổi phải dúi xuống cỏ. Ở rừng dọn về Hà Nội khi giải phóng miền Bắc, không sao ưa được dinh thự của tây tại Phủ toàn quyền của Pháp cũ, nên Bác ở gian nhà bình thường của người thợ điện. Sau phải dựng một nhà sàn đơn giản bên ao cá để Bác làm việc và nghỉ ngơi.

Hòa bình rồi nhưng Bác vẫn du kích đi kiểm tra cơ quan. Bác thường đến bất thình lình, đi thẳng xuống gặp gỡ anh chị phục vụ rồi mới lên gặp thủ trưởng. Một lần Bác đột nhập vào phòng Phó Chủ tịch Uỷ ban hành chính Hải Phòng của tôi và hỏi :” Chú có biết dân lo gì không ?” Tôi thường xuống với dân phố nhưng lúc đó tôi không báo cáo được câu nào với Bác. Tôi nghiệm thấy mỗi lần đột xuất đứng trước Bác, tôi bị thu hút, chỉ nhìn và nghe, không nói được lên lời. Bác đi rồi mới tiếc không trình bày được những ý kiến hay của mình. Một lần khác, Bác đứng nói chuyện với đám đông anh chị em thanh niên tại sân Uỷ ban hành chính. Xong rồi, Bác bảo các cháu hát và túm tôi kéo ra cầm nhịp để rồi Bác bí mật rút lui.

Tư tưởng của Bác Hồ là một thế giới mênh mông ta không hiều hết được, cuộc đời của Bác là đấu tranh gian nan không chút nào ngừng. Ta chỉ thấy khoảnh khắc ung dung, di dưỡng tinh thần cuả Bác ở những lúc hồn thơ rung động cả tâm tình và trí tuệ, tạo nên những vần thơ tuyệt tác.

Trong rừng sâu của cuộc kháng chiến chống Pháp, Bác ngồi trong thuyền bàn việc quân sự, trên dòng nước, đêm khuya dưới ánh trăng và hơi sương, Bác tức cảnh:

Yên ba thâm sứ đàm quân sự

Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền

(Trong hơi nước, sâu trong xứ, bàn quân sự/ Nửa đêm, quay về, trăng đầy thuyền).

Thật là phong cách một ông tiên phương Đông làm cách mạng hiện đại.

Bác chu du khắp thế giới, tập trung nghiên cứu giai cấp bị áp bức bóc lột để cuối cùng, về nước nhà tổ chức cuộc giải phóng dân tộc Việt Nam cho đến thắng lợi hoàn toàn. Tôi nhận thấy cuộc đời Bác Hồ tập trung phát huy các lực lượng dân tộc nước nhà để giải phòng hoàn toàn nước Việt Nam là thiết thực, là thành công. Và Việt Nam hiện nay tuyên bố xây dựng Việt Nam độc lập, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là thiết thực.

Nay tôi đã ngoài 82 tuổi, tôi ghi lại đây mấy dòng hồi ức để nhớ mãi diễm phúc đã được gần Bác Hồ trong những năm tháng đấu tranh xây dựng Tổ Quốc Việt Nam.

  Hải Phòng, tháng 7 năm 1994

About hoingovanchuong

Nhà văn
This entry was posted in 07.Văn, 16.Bài báo and tagged . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s