TỪ TRUÔNG BỒN ĐẾN VINH – BẾN THỦY (tiếp theo và hết)

Nhà văn Đào Thắng

Nhà văn Đào Thắng

ĐÀO THẮNG

V- Lời kết

Trung đoàn 233 (đoàn Đống Đa) pháo cao xạ là một biểu tượng của sự gắn bó giữa Truông Bồn và Vinh – Bến Thủy. Từ trước đến giờ Bến Thủy là một đơn vị hành chính của thành phố Vinh, nhưng khi nói đến địa danh này, thành phố anh hùng, có vinh dự đặc biệt mang danh thành phố Đỏ thì phải gọi là “Vinh – Bến Thủy” mới thấy hết tầm vóc lớn lao. Lứa chúng tôi, lính trung đoàn đã từng sống chết với dải đất này thì tự nhận Vinh là quê hương thứ hai của mình. Sau cuộc ném bom hạn chế tuyến lửa khu bốn, Mỹ ngừng cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, đoàn Đống Đa không trở về Hà Nội như lời hứa của một đồng chí cán bộ cấp trên mà ở lại Vinh, là một trung đoàn phòng không chủ lực của Quân khu 4 cùng một số trung đoàn khác như đoàn Sông Gianh, đoàn Hoa Lư, đoàn Ba Đình. Vinh trở thành thủ đô của chúng tôi, những anh lính sinh ra nơi đồng bằng sông Hồng.

C8 của chúng tôi được nhận thêm một số tân binh quê Nghệ An. (Vào cuối cuộc chiến tranh, trung đoàn còn nhận một đợt 500 chiến sĩ người Vinh). Tôi nhớ một câu ngạn ngữ do bố người bạn thân chúng tôi đọc khi chúng tôi lên đường nhập ngũ: “Gan Thanh Nghệ, lính đệ chi long”. Anh em tân binh Nghệ An mới vào đại đội tôi ít nói, làm nhiều, khi có chiến đấu tỏ ra gan góc và sống rất tình cảm. Thay cho chiến sĩ Đăng đo xa hy sinh là Lưu Quốc Tuấn quê Diễn Lộc, Diễn Châu, Nghệ An. Tuấn thấp đậm, trán rộng, khi nói gật đầu như người lớn tuổi. Anh em tân binh ở các đại đội 9, đại đội 10 thỉnh thoảng hẹn hò gặp nhau ở C8.

Tiểu đoàn 25 được cụm về gần nhau gần giống như đạo quân tiên phong, từ Vinh, kéo pháo đi bảo vệ phà sông Gianh, phục kích đánh máy bay ở đầu đường 20, và đường 15B miền tây Quảng Bình. Rồi đột ngột lệnh trên, tiểu đoàn hành quân về Vinh, lại từ Vinh thẳng sang Lào bảo vệ đường 7B. Khi ta và bạn mở chiến dịch cánh đồng Chum – Xiêng Khoảng. Hết chiến dịch “cha con” dắt nhau về Vinh!

Đầu năm 1971, toàn tiểu đoàn bỏ pháo 37mm, vác súng máy 12,7mm vào Bãi Hà, Vĩnh Linh tập kết, thành quân đi B ngắn, ăn cơm bắc, đánh giặc nam, bảo vệ pháo mặt đất, sát với bộ binh, giải phóng căn cứ Phu Lơ (điểm cao 544) án ngữ một dải giới tuyến chuẩn bị cho cuộc chiến năm 1972. Cuối năm 1971, dấu hiệu Mỹ ném bom trở lại miền Bắc đã rõ. Tiểu đoàn 25 nhận được lệnh gấp về Vinh. Một tiểu đoàn súng máy cao xạ (tiểu đoàn 2) từ chiến trường B5 Quảng Trị cũng được điều ra nhận pháo 37mm, bảo vệ Bến Thủy, một đại đội lên chiếm lĩnh đỉnh 102 trên núi Quyết. Ngày cuối năm, 31-12-1971 máy bay Mỹ ném bom sân bay và ga Vinh. Toàn trung đoàn nổ súng, phối hợp với bộ đội tên lửa bắn rơi tại chỗ hai chiếc máy bay Mỹ.

Thế là Mỹ đã đánh phá lại Vinh thân yêu của chúng tôi. Bộ đội được huấn luyện cơ bản, luôn được hành quân cơ động, đã rèn giũa, đã sẵn sàng cho cuộc chiến đấu bảo vệ Vinh lần thứ hai.

Cùng với việc tăng cường huấn luyện rút kinh nghiệm các trận chiến đấu, mở trường đào tạo cán bộ khẩu đội, tiểu đội, Ban lãnh đạo mới của Trung đoàn hết sức coi trọng công tác Đảng, công tác chính trị, hoạt động văn hóa, văn nghệ.

Để chuẩn bị cho Hội diễn Quân khu, thủ trưởng trung đoàn cho lập “tổ sáng tác” Trung đoàn. Tổ do Tưởng Duy Hùng, chàng trai nhà ở số 74 phố Cầu Gỗ, Hà Nội làm tổ trưởng. Hùng đã dự lớp sáng tác ca khúc do phòng văn hóa – văn nghệ quân đội tổ chức. Cậu ta giỏi nhạc lý, chơi đệm và độc tấu ghi-ta cực hay, chơi ác-coóc và đệm cho tốp nam hát xếp vào loại thứ hai, thứ ba toàn Quân khu. Tổ chúng tôi có Nguyễn Chí Bốn, phóng viên Báo Phòng không – Không quân “hạ phúng” đơn vị, chuyên gia viết tấu thơ về anh hùng Nguyễn Huy Hồng và tôi có văn thơ đăng báo, chàng trai rụt rè, lúc nào cũng mang khuôn mặt buồn. Sau này tổ bổ sung Phùng Chiến ở đường 9 ra, Nguyễn Khắc Thuần từ Trường đại học Sư phạm Vinh nhập ngũ, cú Trần Đông Hỷ, Nguyễn Thế Sự, Văn Trung, Nguyễn Ngọc Lợi.

Trong lần ra mắt đầu tiên Hội diễn Quân khu, đội văn nghệ trung đoàn pháo cao xạ 233 đã đứng đầu khối chủ lực. Chúng tôi tiếp tục đứng đầu khối này vào các hội diễn mùa xuân của quân khu các năm 1971, 1972, 1973 và hội diễn 10 năm Quân khu Bốn (1964-1974) tại Cửa Lò. Anh Nhâm, hậu duệ dòng họ học giả Bùi Dương Lịch nói trong hội nghị quân chính: “Anh em văn nghệ có thể tự do một chút, quá đà một chút, mình vẫn nhắc nhở, mà phải đồng cảm, phải chân thành. Hơi động một tí nạt nộ, lên gân, phạt là nó tịt vòi lại”. Còn anh Huynh cười: “ Tớ cũng sáng tác đây chứ. Tớ nằm đây với các bạn tớ ăn lương khô”. Khi anh Thanh Đồng, anh Đậu Kỷ Luật gọi tôi đi trại viết Quân khu, đơn vị không chịu nhả vì tôi thuộc lớp lính “hai cuộc” (cuộc ném bom hạn chế năm 1968 và cuộc chiến năm 1972) sống lâu ở đơn vị, đánh gan. Anh Huynh đã viết thư cho chính trị viên và thư riêng cho tôi bỏ vào một phong bì. Anh ký tên dưới lá thư gửi cho tôi và đề là “Bạn của Thắng”. Lá thư này tôi giữ được rất lâu. Tôi biết và chơi với Nguyễn Trọng Tạo từ những mùa xuân như vậy. Anh là đội trưởng đội tuyên văn đoàn huấn luyện quân 22B. Tạo hồi đó đã sáng tác được những bài thơ và bản nhạc hay.

Đội văn nghệ đi biểu diễn cho dân nơi đóng quân, biểu diễn cho lính ngụy bị bắt làm tù binh giam ở miền tây Nghệ An. Chúng tôi biểu diễn tại trận địa, đến các đài quan sát xa ở Rú Dài (Cửa Sót), Rú Nầm (Hương Sơn)v.v.. Anh Huynh tổng kết: “Văn hóa-văn nghệ đã góp phần quan trọng vào chiến thắng rực rỡ của đoàn Đống Đa pháo cao xạ năm 1972”.

Năm 1972 là đỉnh cao cuộc chiến với Mỹ, dẫn tới Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri công nhận chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, tuyên bố chấm dứt sự dính líu trực tiếp quân lực tại Việt Nam.

Khác với thời Tổng thống Giôn-xơn đánh leo thang, nhảy cóc, Tổng thống Ních-xơn cho đánh ào, ập, đánh cường tập, sử dụng ngay con bài máy bay chiến lược B52. Từ chân núi Quyết, đại đội tám của tôi được bắn thẳng vào khu vực cầu Già, cầu Nghèn (Hà Tĩnh) một mình bảo vệ cầu. Về đến cầu Phủ gặp lại chiến hữu cố tri, trong trận đánh vào buổi trưa, C3 mất gần mười chiến sĩ. C3, C8 tiến về cụm trung đoàn ở cầu Cầy. Ngày sinh nhật Bác 19-5-1972, cụm trung đoàn do trung đoàn trưởng Bùi Thúc Nhâm chỉ huy bắn rơi tại chỗ hai máy bay (một A7 và một A6, bắt sống giặc lái). Ngày 27-5-1972, tại cầu Sôông, Hà Tĩnh , Trung đoàn phó Nguyễn Hữu Tình trực tiếp chỉ huy bắn rơi một máy bay A4E bằng 28 viên đạn. Giặc lái nhảy dù trong vườn nhà cụ thân sinh Lý Tự Trọng.

Tiểu đoàn 2 chốt bảo vệ Vinh – Bến Thủy. Đêm 10-4-1972, Mỹ cho máy bay B52 ném bom Bến Thủy-Vinh. Ngày 23-5-1972, máy bay của Hải quân Mỹ kéo đàn vào đánh Bến Thủy – Vinh, Tiểu đoàn 2 khi đó đã được trang bị pháo 37mm hai nòng đánh một trận xuất sắc, trong hai phút bắn rơi 03 máy bay Mỹ. Một chiếc A4 rơi tại chỗ, cắm sâu gần cột cờ Bến Thủy.

Năm 1972 lịch sử, trung đoàn chúng tôi từ bệ phóng thành Vinh – Thành phố Đỏ dẫn đầu lực lượng phòng không được xã luận Báo Nhân Dân ngày 2-9-1972 gọi là trung đoàn bốn nhất:

1. Bắn rơi nhiều máy bay Mỹ nhất (27 chiếc)

2. Bắn rơi tại chỗ nhiều nhất (9 chiếc)

3. Tiêu diệt và bắt sống nhiều giặc lái nhất (bắt sống 02 tên giặc lái, tiêu diệt nhiều tên khác)

4. Tháng 5 lịch sử hiệu quả chiến đấu cao nhất

Đầu năm 1973, Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đi dọc tuyến lửa khu Bốn và Trường Sơn, đến thăm trung đoàn. Tại trận địa C3, Đại tướng nói: “Mong lực lượng phòng không – không quân có nhiều trung đoàn bốn nhất như trung đoàn 233”.

Cách đây mấy năm, chúng tôi về Vinh kỷ niệm ngày thành lập trung đoàn với các bạn chiến đấu người Vinh. 500 anh em ngày ấy bây giờ có người thành doanh nhân thành đạt, là cán bộ chính quyền, cán bộ công tác ở cơ quan quân khu, ở lữ đoàn phòng không 283. Họ có một ban liên lạc hoạt động rất tốt. Đến nhà anh Nhâm, mấy anh em tổ sáng tác cũ rất xúc động khi anh mang cái túi ni lông đựng bản viết tay hợp ca: “Tiếng hát tự hào, tiếng hát chiến công”.

Anh nói:

– Thành nhà văn, thành nhạc sĩ rồi có còn nhớ cái tiếng hát này không?

Tôi hiểu anh nhắc nhở chúng tôi, người viết, người sáng tác không bao giờ được quên cái nôi của mình.

Tôi đùa góp với anh:

– Trung đoàn ta có hai ông tướng. Thiếu tướng Nguyễn Hữu Tình và Thiếu tướng Nguyễn Phong Phú. Còn anh em chúng em phong tặng anh lão tướng họ Bùi.

Anh cười:

– Trung đoàn mình phát về văn hóa – văn nghệ: Duy Hùng là họa sĩ, nhạc sĩ; Phùng Chiến nhạc sĩ có nhiều bài hát nổi tiếng như: “Sa Pa nơi gặp gỡ đất trời”; Nguyễn Ngọc Lợi cây truyện ngắn; Nguyễn Thế Sự toàn đánh quả giữa đài báo, kịch truyền thanh, bút ký lấy tiền nhuận bút nuôi mẹ; và Thắng nữa, im ỉm mà ăn cờ, chưa tặng tôi quyển sách nào.

– Có tặng rồi chứ ạ!

Anh mỉm cười:

– Tặng quà Nhà Văn hóa đúng không?

Chợt Lưu Quốc Tuấn hỏi:

– Thủ trưởng ơi, em là lính 1968 (thuộc đại đội 8 chúng tôi) sau làm chính trị viên đại đội, rồi làm cán bộ ở sư đoàn dầu khí, rồi về Vinh làm công tác cán bộ ở lữ đoàn 283. Em xin hỏi thủ trưởng 283 nó khác 233 ở chỗ nào thủ trưởng?

Anh Nhâm vẫn mỉm cười, giọng nói trở nên vang sắc sảo. Anh hỏi:

– Tuấn, thấy nó khác ở chỗ nào?

Giọng Tuấn to vang:

– Nó khác mỗi con số 8 ở giữa thôi bác ạ!

Anh Nhâm nhìn khắp chúng tôi:

– Không khác đâu. Nó là sự nối tiếp truyền thống của lực lượng phòng không Quân khu Bốn, chủ yếu là pháo cao xạ, tiếp nối truyền thống các trung đoàn: 233, 222, 214, 280 chiến đấu bảo vệ Vinh – Bến Thủy. Dòng chảy lịch sử không dừng lại, đứt ở đây. Để đứt là có tội với lịch sử. Bây giờ chưa thấy tội nhưng sau này lịch sử sẽ phê phán. Chúng ta rồi sẽ nằm xuống đất theo các liệt sĩ Truông Bồn và Vinh-Bến Thủy, chỉ có điều khác là chúng ta khi nằm xuống có được thanh thản như anh chị em hay không?

Anh tiễn đoàn văn nghệ 233 lên Truông Bồn. Trong chúng tôi có mấy anh em đã từ Truông Bồn đến Bến Thủy và hôm nay chúng tôi lại từ Bến Thủy trở lại Truông Bồn. Duy Hùng sẽ vẽ về mảnh đất địa danh lịch sử này. Phùng Chiến đã hứa là có bài hát trữ tình ngợi ca. Nguyễn Ngọc Lợi phải có ngay bút ký: “Cái chớp mắt của lịch sử”. Còn Nguyễn Thế Sự tay đánh quả với nhà đài lấy nhuận bút nuôi mẹ, nuôi em bị chứng tâm thần sẽ viết kịch truyền thanh thật cảm động. Nguyễn Khắc Thuần sẽ viết nhiều bài cho các báo, sau tập hợp lại thành một tập có tính chất sử thi về Truông Bồn.

Còn tôi cố gắng viết đúng hẹn mấy kỳ báo có tính bút ký, lịch sử về sự gắn kết với nhau, từ đây thành ra đấy và từ đấy về đây, của Vinh – Bến Thủy và Truông Bồn. Cái bút ký – lịch sử sẽ mang tên Từ Truông Bồn đến Vinh – Bến Thủy”.

Hà Nội những ngày thu năm 2008
Đại tá – Nhà văn ĐÀO THẮNG (Nguyên chiến sĩ Đoàn pháo cao xạ Đống Đa) 

About hoingovanchuong

Nhà văn
This entry was posted in 07.Văn, 16.Bài báo and tagged . Bookmark the permalink.

Có 2 phản hồi tại TỪ TRUÔNG BỒN ĐẾN VINH – BẾN THỦY (tiếp theo và hết)

  1. Alabama nói:

    Đã đi từ Truông Bồn tới Vinh – Bến Thủy sao không ghé qua Xã Đoài, Mỹ Yên một chút đồng chí? Nghi Phương với Cầu Cấm hồi đó còn dữ dằn, ác liệt hơn Bến Thủy nhiều! Sao đồng chí Đào Thắng này không nhớ rứa?

  2. Pingback: Chủ Nhật, 22-09-2013: Vụ tử vong sau tiêm kháng sinh: Bé 5 tuổi liên tục kêu đau đầu, cầu cứu | Dahanhkhach's Blog

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s