THẾ GIỚI KHÔNG CÒN TRĂNG – NỖI ĐAU BUỒN SÂU THẲM

Nhà thơ Trịnh Thanh Sơn

NTT – Nhà thơ, nhà phê bình Trịnh Thanh Sơn, người bạn văn, bạn rượu của tôi mất đã hơn 4 năm. Sinh thời, tôi in ra tập sách nào anh cũng đọc, đọc kỹ và viết bài chia sẻ. Nay tôi chuẩn bị ra mắt tập “Thơ và Trường ca” như một “tiền tuyển” về thơ, bỗng nhớ Sơn vô kể. Thiếu Sơn là thiểu hẳn một “hoạt náo thi tửu” thật đáng yêu. Nhân dịp này, tôi đưa lại bài viết của anh về tập thơ “Thế giới không còn trăng”. Đây cũng là bài viết cuối cùng của Sơn khi đang trên giường bệnh, rồi ra đi mãi mãi (9.2007).

Tiếng cười – Sự giễu nhại và nỗi đau buồn sâu thẳm!

(Đọc Thế giới không còn trăng – Thơ Nguyễn Trọng Tạo – NXB Hội Nhà văn, 2006)

TRỊNH THANH SƠN

Có thể coi tập thơ Thế giới không còn trăng là đỉnh cao của phong cách thơ Nguyễn Trọng Tạo, mà khởi thuỷ là từ những năm tám mươi của Thế kỷ trước, với bài thơ mang tính Tuyên ngôn nổi tiếng Tản mạn thời tôi sống.

Thượng Đế là Đấng Toàn năng, vĩ đại vô cùng. Thượng đế vĩ đại nhờ bởi hai phẩm chất chính trong tính cách, đó là cực đoan và khôi hài. Sau khi nông nổi sinh ra một loài động vật có tên là Con Người, trong cơn say sinh nở và bản tính khôi hài, Thượng đế bốc nhầm ba vị thuốc cho Con Người sơ sinh uống, đó là Ngu Dốt, Tham Lam và Độc Ác, rồi đẩy tất tần tật xuống trần gian. Đến khi tỉnh rượu, Thượng Đế mới ghé mắt nhìn xuống hạ giới thì hỡi ôi, cái lũ Người mà Thượng Đế sinh ra đang gầm ghè vì miếng ăn, vì cái ghế ngồi mà chém giết nhau túi bụi. Tại sao chúng lại phải chém giết nhau như thế nhỉ? Ta sinh ra chúng đẹp lắm kia mà, nhân hậu, nhường nhịn lắm kia mà ? Thôi rồi, ta say, ta lỡ bốc nhầm thuốc rồi, có khổ không? Trong đầu, trong ngực lũ người kia ta chỉ nhồi nhét toàn là những Ngu dốt, Tham lam và Độc ác, hèn chi chúng cứ lao vào mà chém giết, mà ăn thịt lẫn nhau như hùm beo. Phải sửa chữa sai lầm này ngay. Thế là Thượng Đế hăm hở sinh ra một nhúm người khác, mặt mũi xanh xao vàng vọt, tay chân lẻo khoẻo trói gà không chặt, nhưng lại được Thượng Đế thổi vào đầu và ngực hai phẩm chất của chính mình, đó là Cực Đoan và Khôi Hài. Thượng đế suy nghĩ hồi lâu, rồi tặc lưỡi đặt tên cho nhúm người xanh xao vàng vọt đó một cái tên cũng rất khôi hài: Nhà Thơ! Trước khi đẩy nhúm người ngơ ngác, cực đoan và khôi hài ấy xuống trần gian, Thượng Đế chỉ dặn một câu gọn thon lỏn: Các ngươi xuống mà cứu đồng loại của các ngươi dưới đó, ta mệt lắm rồi!

Lũ người xanh xao vàng vọt ốm o kia khênh vác sứ mệnh to lớn trên vai, lục tục xuống trần, chia nhau ra sinh sống cùng đồng loại trên cả 6 lục địa có sẵn, nhung nhúc những người da trắng da đen da vàng da nâu đủ cả….Hành trang và vũ khí duy nhất của lũ người ngơ ngẩn ấy chỉ là cây bút với tính cách cực đoan và khôi hài được thừa hưởng một cách miễn cưỡng, nghĩa là không tự giác và càng không trọn vẹn từ Thượng Đế – Người Cha đáng kính -mà thôi! Trong lũ người ấy ta dễ dàng nhận ra bóng dáng thi sĩ Nguyễn Trọng Tạo, với mái tóc xoăn luôn đi ở hàng đầu trong đoàn người ốm o đi cứu đồng loại ra khỏi căn bệnh trầm kha Ngu dốt, Tham lam và Độc ác. Lũ người ấy nảy ra một dự định kinh hoàng là bắn rụng mặt trăng đi, để thế giới không còn trăng nữa, cái vầng trăng vốn là biểu tượng của Cái Đẹp sẽ bị bắn hạ và cùng với vầng trăng, chúng cho tiêu luôn cả Chân và Thiện nữa! Thế là cái lý tưởng của loài người, cái cốt tử của Văn học, Nghệ thuật là Chân- Thiện- Mỹ sẽ đi đời nhà ma! Khi ấy, thế giới loài người sẽ còn lại gì nhỉ, sẽ ra sao nhỉ?

Và khi ấy, một giọng giễu nhại vang lên:

Thế giới không còn trăng! Tin nghe rùng rợn quá
Chú cuội cây đa tan xác giữa thiên hà
không còn Tết Trung thu, không còn đêm phá cỗ
không còn ánh trăng ngà cho thi sĩ làm thơ…

Hàn* đã quen có trăng như người tình muôn thuở
Ta đã quen có em như trăng khuyết trăng tròn
Exenhin uống trăng tan đầu ngọn cỏ
Lý Bạch đuổi theo trăng xuống tận đáy sông trong…

Trong những câu thơ ấy ta thấy cả tiếng cười và nước mắt, thấy cả tính cách cực đoan và khôi hài của loài thi sĩ. Giễu nhại là một bản lĩnh, giễu nhại khác với chê bai và giễu cợt. Người biết giễu nhại là người biết khôi hài và tự khôi hài, thường đứng cách xa loài người tầm thường một khoảng đủ rộng dài cho quan sát và chiêm nghiệm, cao hơn một khoảng để nhìn xuống mà khái quát.Và đó sẽ là một khái quát đớn đau:

Ta rờn rợn nghĩ tới lò Hoàn Vũ
một ngày kia hoả táng cả trăng vàng
đừng tưởng giết một tinh cầu giá lạnh
mà ngỡ mình vô tội với tình trăng…

Từ tiếng cười, sự giễu nhại của một bài thơ, dẫn đến tiếng cười và sự giễu nhại của cả một tập thơ là bước đi có chủ định của Nguyễn Trọng Tạo. Có thể coi tập thơ Thế giới không còn trăng là đỉnh cao của phong cách thơ Nguyễn Trọng Tạo, mà khởi thuỷ là từ những năm tám mươi của Thế kỷ trước, với bài thơ mang tính Tuyên ngôn nổi tiếng Tản mạn thời tôi sống.

Khi Nguyễn Trọng Tạo nói : Những bông hoa vẫn cứ nở đúng mùa/ Như thời đã đi qua như thời rồi sẽ đến!, tức là Tạo nói theo cái cách tưng tửng của Nguyễn Trãi ngày xưa, rằng: Kim cổ vô cùng giang mạc mạc / Anh hùng hữu hận diệc tiêu tiêu! Qui luật của vạn vật là vậy, qui luật của cuộc đời là vậy, một khi con người bừng thức trong một giác ngộ nào đó sẽ bừng dậy một sám hối chân thành và đớn đau! Cái ta ngỡ là thế này, đinh ninh là thế này bây giờ lại hoá ra thế khác. Bao nhiêu năm ta đổ máu và đổ cả niềm tin cho một giá trị ảo, giờ chợt nhận ra thì thật đáng cười, đáng giễu nhại và đau buồn làm sao! Trong hành trình thơ Nguyễn Trọng Tạo, chúng ta nhận rõ có hai thời kỳ mà cái bản lề của sự khép mở kia chính là từ thời điểm anh viết bài thơ Tản mạn thời tôi sống. Với bài thơ hết sức quan trọng này trong hành trình thơ của anh, Nguyễn Trọng Tạo như tuyên bố và khẳng định rằng: Từ thời điểm này, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo đã là một con người khác, một công dân khác và một thi sĩ khác! Cái khác ấy hiện hình nhanh chóng và tự khẳng định một cách đầy tự tin và thuyết phục qua hai tập thơ Đồng dao cho người lớn và Nương thân. Đó là sự hình thành một cách đầy ý thức và quyết liệt cho giọng điệu và phong cách giễu nhại đau buồn trong thơ anh.

Mọi cái trong đời đối với thi nhân bây giờ không còn nghiêm trang nữa, hay nếu còn khoác bộ áo xống trang nghiêm thì cũng chỉ mang đầy vẻ khôi hài, giả dối, thớ lợ, cũng trở thành đối tượng trực tiếp cho sự giễu nhại mà thôi. Ngay cả đến từng ý nghĩ của tôi, những ý nghĩ thầm kín trong đầu cũng phải bày ra trước bàn kiểm duyệt, liệu bây giờ tôi còn dám tin tôi? Những câu thơ mang âm hưởng tự trào mà buồn đau thấm thía:

Thế là tôi kiểm duyệt tôi trước khi anh kiếm duyệt. Những người chết không biết nói. Tiếng quạ kêu nhắc nhớ mấy chiến trường. Tiếng chim sơn ca trong lồng hót theo ý chủ. Nay tế nhị, mai nhạy cảm mốt tinh ý tinh vi tinh tường tinh tướng. Còn nhiều nữa những cản từ ngụy biện. Thế là bao che thế là trừng phạt. Thế là ta mà chẳng phải ta…( Phác hoạ).

Thơ Nguyễn Trọng Tạo ở chặng hai này đã đạt tới một vẻ đẹp cổ điển trong sự tung tẩy và tự làm mới. Cái mới không nệ vào hình thức tân kỳ, câu chữ tân kỳ mà cái mới ở đây là những tư tưởng mới, giọng điệu mới, tâm thế mới, nhạc điệu và tiết tấu mới, phức màu, phức nhịp… nên từng bài thơ trở nên đa thanh và phức điệu. Tôi nói những điều trên là có cơ sở tự cái nguồn âm nhạc luôn tuôn chảy, cái màu sắc và đường nét của hội hoạ luôn long lanh trong tâm hồn nhà thơ đa tài, đa cảm, đa tình này. Và đây là một ví dụ ngẫu nhiên, minh chứng cho bức tranh tình muôn sắc ấy:

không vẽ mắt không vẽ môi không vẽ dáng hình
tôi vẽ hơi thở em thơm tho lộc biếc
căng cứng vú đồi
và chiếc gương trời
ai vừa đánh rơi xuống mặt hồ trong vắt…

…không vẽ người đàn bà hồi xuân
tôi vẽ mùa xuân vĩnh hằng trên toan trắng
em!
bức tranh tình không năm tháng
em!
Mùa xuân chiếm hữu sắc màu tôi!
( Bức tranh tình)

Chẳng hiểu sao, đọc những câu thơ ấy, tôi lại chợt nhớ những câu thơ lục bát của Bùi Giáng đã bám quanh quất trong trí nhớ tự hồi nào:

Em về mấy thế kỷ sau
Ngó trăng còn thấy nguyên màu ấy không?
Ta đi gửi lại đôi dòng
Lá rơi có dội lại trong sương mù?

Về ngữ nghĩa, về ngữ cảnh, về tình huống, chẳng có gì liên quan giữa những vần thơ ấy, vậy mà chúng lại gợi cho người ta liên tưởng về một mối tình xuyên tháng xuyên năm, một mối tình vĩnh cửu chỉ có được trong tâm tưởng thi nhân. Chao ơi, cái kỳ diệu của Thơ là ở đấy. Em về mấy thế kỷ sau…thì cũng chính là mùa xuân vĩnh hằng trên toan trắng chứ sao!

Nhưng cái giọng trữ tình thuần khiết và trong sáng ấy chẳng ở được bao lâu, thì sự cợt đùa, giễu nhại kinh niên lại đột ngột ùa về, làm cho bức tranh tình không năm tháng, cái mùa xuân chiếm hữu sắc màu tôi lại hoá ra thế này:

Anh làm vua không ngai em vẫn là hoàng hậu
Nàng công chúa khóc nhè chàng hoàng tử hờn dai
chợt thương quan không dân chợt thương ngai không chủ
thương những đời người chung thân trong áo mão cân đai…
(Cổ tích thơ tình)

Nói thương người cũng là nói thương mình, thương cái ông vua không ngai ở tít trên tầng sáu ngôi nhà có sân thượng đầy cỏ may kia, cái thứ cỏ gợi nhớ một miền quê, một tuổi thơ nghèo khó, trong trẻo và thanh khiết. Bài thơ lục bát này Nguyễn Trọng Tạo viết trong một đêm say cô đơn, chỉ đợi trời sáng là đọc cho tôi nghe qua điện thoại. Và tôi đã nghe cho tới bây giờ như nghe nỗi lòng buồn bã của chính tôi:

Cỏ may khâu áo làng quê
cớ chi gió thổi bay về trời cao
ta lên sân thượng chạm vào
cỏ may. Ta cúi xuống chào …cỏ may!

…Cỏ may không hẹn mà xanh
Tìm ta khâu vá cho lành nhớ thương
Ngang trời hoa cỏ đẫm sương
Loanh quanh sân thượng mà thương cánh đồng…

Và tôi gọi đó là những câu thơ buồn đau thăm thẳm sau giễu nhại và cười cợt một đời!
Như trên đã nói, thơ Nguyễn Trọng Tạo hôm nay đa thanh và phức điệu, trước hết là nhờ ở phẩm chất công dân mạnh mẽ và nhất quán, ý thức trách nhiệm của một kẻ sĩ trước ngòi bút, trước hiện thực và chân lý khách quan, trước bạn đọc và trước thời gian, vị Quan Toà nghiêm khắc nhất đối với tất cả những ai muốn theo đuổi cái chí của Nguyễn Công Trứ tiên sinh: “Làm trai sống ở trong trời đất/ Phải có danh gì với núi sông!”

Có một chút danh gì với núi sông, đối với những kẻ lập ngôn, thực khó vô chừng! Ảo tưởng thì nhiều mà thực tâm, thực tài lại quá mỏng, lũ người háo danh cứ nhắm mắt mà bước loạng choạng trong một niềm say mê bệnh hoạn ngỡ mình đang bay lên đỉnh Thi Sơn! Trong lũ người kia, ta không thấy bóng dáng thi sĩ Nguyễn Trọng Tạo, bởi lúc đó, anh còn đang bận trò chuyện với tượng Thằng Cu Đái ở tận Brucxen bên nước Bỉ! Bài thơ cười cợt và giễu nhại mà sâu sắc vô cùng về triết lý nhân sinh, về lẽ trời, lẽ đời, lẽ người, lẽ sống , lẽ buồn vui…Mà không vui sao được khi chứng kiến một cảnh tượng như thế này:

Đến Bỉ thăm thằng Cu Đái
nhỏ con mà nghịch quá trời
nó đứng trên cao cười tít
đái qua đầu bạn, đầu tôi…

ở đâu con người thiếu nước
đến đây cầu ước phúc lành
ở đâu con người bất hạnh
đến đây cầu lộc cầu vinh…

Mỗi năm một ngày Cu Đái
Đái toàn bia Bỉ đắt tiền
Mùi bia làm say thế giới
Sâu bia sâu rượu ngả nghiêng
chụp ảnh với thằng cu Đái
thật vui không phải trả tiền!

cu Đái to, cu Đái nhỏ
nghìn năm chẳng chịu mặc quần
cu Đái đã thành biểu tượng
vĩnh hằng sự sống trần gian…
(Tượng thằng Cu Đái)

Cái giọng giễu nhại như là bẩm sinh của những nhà thơ Xứ Nghệ càng đậm đặc trong thơ Nguyễn Trọng Tạo khi anh đã lựa chọn được thể đồng dao đắc địa cho phong cách và giọng điệu thơ mình. Chọn xong đồng dao, Nguyễn Trọng Tạo đã chọn xong cho mình một vương quốc, mà ở đó, anh tuỳ nghi tung hoành, cười cợt, giễu nhại và mặc sức buồn đau! Không hiểu sao, cứ vấp vào một bài đồng dao hiện đại của Nguyễn Trọng Tạo, tôi lại luôn liên tưởng tới bài đồng dao tôi thuộc từ thuở ấu rhơ, khi cùng các chị, các anh tôi, chơi Thả đỉa ba ba ở cái sân gạch rộng mênh mông nơi quê nhà. Nguyên văn bài đồng dao ấy thế này, chắc nhiều người còn nhớ: Thả đỉa ba ba/ Chớ bắt liền bà/ Phải tội liền ông/ Cơm trắng như bông/ Gạo thuyền như nước/ Đổ mắm đổ muối/ đổ chuối hạt tiêu/ Đổ niêu cứt gà/ Đổ phải nhà nào/ Nhà ấy phải chịu!

Ngày nhỏ, nhập tâm thế thì cứ thế mà nghêu ngao, đâu có hiểu lý lẽ gì trong những câu đồng dao kia, hiểu gì đến chuyện chớ bắt liền bà phải tội liền ông, biết gì cái chuyện đổ niêu cứt gà, đổ vào nhà nào, nhà ấy phải chịu?! Lớn lên, đọc sách mới thấy cái triết lý dân giã kia sao mà trùng khớp với những câu thơ đầy màu sắc triết học của Nguyễn Gia Thiều tiên sinh:

Cái quay búng sẵn trên trời
Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm!

Ta là cái gì trong cái thế giới mờ mờ nhân ảnh này, hỡi thi sĩ Nguyễn Trọng Tạo? Và dường như Nguyễn Trọng Tạo cũng có thường trực một câu hỏi lớn trên đây, khi Đồng dao cho người lớn bỗng vắt sang Thế giới không còn trăng, nó đã thế này:

Anh Rock một đêm về mềm thân xác
nhớ bài đồng dao thuở nào em hát

anh Rock một đời hoa thành quả đắng
từng giọt chiến tranh chảy dòng máu trắng
ai đem rao bán vinh quang rẻ tiền
anh mua giá đắt một mùa lãng quên.
(Đồng dao cho bạn)

Ôi, cái mùa lãng quên kia, ta đã từng phải mua bằng máu, những dòng máu xanh chảy dọc thân hình châu thổ ( Nguyễn Thụy Kha), vậy mà bây giờ, phải đem rao bán với giá rẻ ư? Có rẻ như chiếc lá này không?

Tiếng lá rơi nặng như một xác người…
…Lá không phải là anh
Lá không phải là tôi
Lá đã hát
Đã đau
Đã khóc
Lá đông vui đơn độc
Và lá rơi nặng như một xác người
Tôi khâm liệm trong tấm khăn mây xám
rồi chôn lá vào hồn tôi thăm thẳm…
(Lá)

Thế đấy, với thi sĩ mang trong mình dòng máu trực hệ của Thượng Đế thì từ cười cợt, giễu nhại đến buồn đau thăm thẳm chỉ cách nhau một sợi tóc mà thôi! Và thi sĩ đinh ninh, với thứ vũ khí mong manh ấy, những câu thơ nhẹ như bấc, nặng như chì ấy, chàng có thể cứu được vầng trăng kia, cứu được vẻ đẹp kia, để nhân loại vĩnh viễn không rơi vào tăm tối!

Thật là một ý tưởng điên rồ! Đáng khâm phục và kính trọng thay!
May thay, nhân loại chưa tuyệt chủng loài Donkihote!

About hoingovanchuong

Nhà văn
This entry was posted in 05.Phê bình-lý luận and tagged , . Bookmark the permalink.

Có 1 phản hồi tại THẾ GIỚI KHÔNG CÒN TRĂNG – NỖI ĐAU BUỒN SÂU THẲM

  1. glang nói:

    tôi và anh,nào có gì xa lạ (cánh thiệp dầu xuân)
    sinh viên SG ,Huế có mấy xa?
    mỗi xuân đến cùng về vui đoàn tụ..
    tôi chợt nhớ có mùa xuân cũ
    thây người phơi và lửa cháy tràn lan
    súng giao thừa, thay tiếng pháo nổ rang
    xuân đoàn tụ lại thành xuân ly biệt

    xuân năm ấy nơi lòng tôi tha thiết
    muốn hòa bình không có chiến tranh
    vũng máu nào trên thảm cỏ xanh?
    thây ai đấy chưa chưa nằm yên dưới mộ
    người chít khăn tan, người đôi nạng gỗ

    nhận làm quà như cánh thiệp đầu xuân
    viết cho mùa xuân 1968

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s