TÂY SƠN AI TƯ VÃN TRUYỆN

VŨ ĐÌNH NINH

TÂY SƠN AI TƯ VÃN TRUYỆN

LỜI TÁC GIẢ

Đó là những mảnh sáng rơi xuống từ một thiên hà quen thuộc vào giấc mơ tâm thức kết thành chuỗi sắc nhọn ngấm trong dòng chảy thời gian như bất tận bên bờ hư sự sống. Tôi đang mơ nghe, đang mơ thấy, đang mơ đón nhận sự róc cào qua từng tế bào cảm giác và như bật ra từng thanh khúc đoạn trường. Và đó là hành trang đã cho tôi cảm xúc, cho tôi ghi chép lại từng nỗi bi ca của từng phận đời lung linh theo dòng mảnh sáng trong thời kì rất là hào hùng của dân tộc – thời Tây Sơn. Tôi xin cung kính nghiêng mình trước tiền nhân và hậu thế. Nơi  đây xin tâm thành cám ơn những người anh, người chị, những người bạn đã có nhiều tâm cảm động viên, góp ý, giúp tôi nhiều tài liệu tham khảo để viết lên những dòng tâm huyết này. Trang sách còn rất nhiều thiếu sót cần sự giúp đỡ, rất mong!

Xin cung kính !

Qui Nhơn ngày 11 tháng 5 năm 2009

Vũ Đình Ninh

1

Bon chen làm kiếp con người

Có ai nghĩ đến nghiệp đời trớ trêu

Chữ thân chữ nghiệp duyên nhau

Thân hoa nghiệp bướm thân dâu nghiệp tằm

Xanh rì trong cõi mù tăm

Xôn xao trong cõi thăng trầm đỏ đen

Hoá công dựng một cây đèn

Thân người bóng lửa lan triền sử xanh

Từ năm Trịnh Nguyễn phân tranh

10        Vua Lê hư vị Long kinh vỏ vàng

Cung đình đây! Tiếng quân vương

Cung son đây! Tiếng am tường nho phong

Ngọc Hân công chúa mở lòng

Tuổi lên mười sáu rạng dòng hoàng gia

Soi thân ngời ánh kiều nga

Soi đời phận mỏng như là phù vân

Nằm mơ cầm bảng phong thần

Đọc qua đoạn khúc châu thân bồi hồi

Kiều hoa ánh mắt xa vời

20      Ngó qua vườn thuý bướm ngài nơm nang

Ngẩn người hai chữ đoan trang

Vừng trăng mười sáu sáng tràn màu da

Tấm thân tố nữ mượt mà

Mượt mà dáng dấp lụa là mượt hơn

*0*

Rằm giêng nàng đến Vu sơn

Đường xuân cỏ sớm ghen hờn sắc xanh

Bóng nga dõi mắt kinh thành

Suối trong núi biếc nghiêng đành cả hai

Gió hương ngát bóng mây trời

Nhụy hoa lan tiếc lạc mùi thanh ngâm

Một vùng sơn thuỷ hoà âm

Nguyên tiêu ngày hội thi cầm bườm trương

Nàng cười mở nghiệp văn chương

Môi thơ khẻ động bàng hoàng cõi nhân

Âm giai muôn nẻo quây quần

Tiếng trầm cá lượn tiếng ngân nhạn về

Tiếng khàn tiếng đục sương che

Tiếng bi tiếng não theo về bên ai

*

*      *

Hội xuân ngày vút cánh bay

40       Hồi cung hồn ướm sắc ngoài khôn vơi

Ngoái trông én lượn bên trời

Nhìn theo con nước hoa trôi nhạt nhoà

Nhìn theo man mác yên ba

Dưới làn mây bạc là là sắc thanh

”Hồn mơ lạc giữa tinh anh

Buông xuôi phương hướng du hành bến xuân

Mơ màng thấy một vương nhân

Chống đao vẩy bút chúng quần xếp chen

Giọng đồng sang sảng vang lên

50       Tim nàng chưng đã nghe rền nỗi ngây”

Bóng chiều trải thẩm non Tây

Vừng trăng chói mộng chân tay vụng về

Ánh vàng chạm mắt con khê

Xua làn sóng bạc bốn bề thêm thanh

Mây ngàn quyến luyến vây quanh

Chùa xa dần khuất sau gành rẽ ngang

*

*     *

Chơ vơ miếu cổ bên đàng

Lá trăng lấp ló đốm vàng đốm xanh

Chạnh lòng trước cảnh u minh

60       Bệ hương mục rữa cỏ tranh nhập nhoà

Bàng hoàng mắt lạc phương xa

“Ai như người ấy rõ là nam nhi”

Ghé tai trìu mến thầm thì:

“Muôn dân lầm thán nói gì lời oanh

Cho dù nghiệp đế đang manh

Lòng ta mong được giữ cành thiên hương

Cùng dân đã một con đường

Dẹp bầy lang sói tìm phương giúp đời

Giờ còn giặc giả khắp nơi

70          Gửi câu ước hẹn tạc lời mai sau!”

*

*       *

Đường trăng trắng lạnh nhuốm màu

Dòng mơ sủng ướt ánh sầu lung linh

“Trắng đen ngờ ngợ nỗi tình

Thực hư  nhoà nỗi bồng bình mù xa

Chữ duyên chăng đã mặn mà

Chữ tình ai đã hẹn là mai sau”

Bỗng dưng trời rớt giọt châu

Sầm u lối trước dàu dàu cỏ hoa

Vùng đen chậm bước trăng tà

80        ”Len trong ánh chớp mượt mà lời thăm

Ngọt ngào ủ kín trong tâm

Má nàng rựng đỏ như dầm châu sa

Đã tin lòng nguyện rõ mà

Đàn bà – dạ trẻ có là nổi nông?

Từ xưa trời đất dày công

Xuôi chi nguyệt lão sợi hồng đem pha

Gom hương điểm nét thân hoa

Đến mùa nhan sắc dâng qua nhà chồng

Ngẫm bao kiếp phận má hồng

90       Trăm năm son sắt tơ đồng cho ai

Tiết trinh rớt giọt u hoài

Thanh cao phảng phất một vài khói hương

Nơi đâu là chỗ thiên đường

May ra nơi dưới suối vàng sẵn cho

Một lời hẹn ước trong mơ

Mai sau có được chung mồ đôi ta

Nỗi đau nào để gọi là

Nửa non bông cúc nửa già hoa cau

Nửa xanh tóc nửa bạc đầu

100  Nửa thi phú nửa gam mầu hoá thân

Nửa lơ ngơ nửa tần ngần

Nửa tươi tỉnh nửa bần thần cõi xa

Đoạn trường kiếp phận kiều hoa

Để xuôi con nước phù sa sông dài

Đỏ đen theo dọc canh bài

Rủi may đọng giọt ai hoài người xưa

Tự nghìn xưa bỗng như vừa

Nghìn năm sau với đời xưa có là?

Có còn sầu muộn nét hoa

110       Còn chăng kiếp phận đàn bà mãi đeo!

Nhìn qua dòng chảy soi theo

Bóng mây thấp thoáng cánh bèo ủ ê

Nhìn đâu cũng thấy nặng nề

Thôi thì ta cứ nhìn về thân ta

Hồng thân dĩ nghiệp phù hoa

Trăm năm hết nghiệp có là tinh anh

Có chăng còn lại chút tình

Còn trong hoài niệm tâm linh bến bờ

Còn trong lời nhạc ý thơ

120  Còn trong được mất cuộc cờ thẳng ngay

Còn trong chồi biếc cỏ cây

Giữa tàng xao xác ngửa say giấc chiều”

Ngẩn người trước cảnh đìu hiu

Mắt theo dòng chảy liu riu vô tình

Nàng thầm nhẩm mấy câu kinh

”Giọt rơi trên nước tâm thành trôi xa

Giọt rơi khắp cõi người ta

Giọt chìm giọt nổi giọt là chị em

Giọt nào thanh sắc nhìn xem

130       Giọt nào đỏ thắm dịu mềm quanh môi

Người lâng sương khói bồi hồi

Trăng tan thành đá núi đồi ứa thơ”

Chập chờn đang giữa tĩnh mê

Kiệu hoa khua động tiếng nghe rõ dần

Nhạt nhoà bóng dáng vương nhân

Cung đình trước mặt mấy lần thềm băng

Chìa tay níu lại vùng trăng

Non tây đã điểm thùng thằng trống canh

*

*     *

2

Quay về phủ chúa Đàng Trong

140     Gian thần Quốc phó Phúc Loan lộng quyền

Ngang nhiên hãm hại người hiền

Lương dân ca thán xóm giềng đớn đau

Lập mưu chém Ý Đức Hầu

Tróc truy Ngô Mãnh rượt sâu vào rừng

Cả nhà Đô Mãnh –Thống quân

Duy còn đứa cháu tuổi đang hơn mười

Tay ôm Văn Sở sụt sùi

Xót xa ngửa mặt ngậm ngùi ông than:

”nghiệp đời sao lắm trái ngang

150   xả thân bổn soái trung can hết lòng

theo chân phò chúa chỉ mong

dân an quốc thái, muỗi mòng thế sao!

nhà ta lai láng máu đào

biển sâu có thấy trời cao có tường?”

Còn bao nhiêu cảnh đau thương

Họ hàng bà Sáu pháp trường phanh thây

Chỉ vì cái tội chửi lây

“Gọi quan Quốc phó thằng nầy thằng kia”

Nghèo không hột cháo dính thìa

160   Lấy đâu ra lúa, nộp về quan trên

Dâu bà, chúng nhốt qua đêm

Dày vò thân xác rũ mềm cánh hoa

Con trai lính thú phương xa

Căm thù bà rủa quan ngoa huyện đường

“Hởi thằng Tần Cối họ Trương!…

Sao mày không sớm phình chương cho rồi

Dân đen tao chán sống rồi

Miếng ăn không có chỗ ngơi không còn

chồng xa vợ, mẹ mất con… ”

170        Thành ra cả họ chết oan giữa trời ”

Cảnh này lập lại nhiều nơi

Nhà nho, kẻ sĩ trách đời nhiễu nhương

Âm thầm trước những tai ương

Gia đình Cử Hiến tìm đường lánh thân

Dấn theo kiếp nạn phong trần

Nửa đêm dắt vợ con lần hướng Nam

Vạch dòng lau lách mù tăm

Thuê thuyền mướn sỏng dãi dầm tìm phương:

”Ngoái trông từng khúc đoạn trường

180      Chén cơm bát nước dặm đường hiểm nguy

Nhìn con hai đứa thầm thì

Nhìn người vợ yếu nhu mì đắng cay

Nhìn lên trắng lạnh màu mây

Nhìn xa thăm thẳm dặm dày bước mong

Càng đi càng thắt sợi lòng

Càng lo càng cháy ruột gan nơi về

Khắp người Trương Hiến như  tê

Hai tay vuốt mặt dầm dề giọt châu”

*

*    *

Tin đồn An Thái, vùng sâu

190     Hướng Tây sơn thượng ngút ngời ánh sao

Có ông biện Nhạc anh hào

Chiêu hiền, đãi sĩ kém nào Tống Giang

Giúp người bước ngặt vận tàn

Lén nghề trầu-muối món hàng đổi trao

Nuôi em Huệ, Lữ khác nào

Thay cha giúp mẹ dạy trau đạo đời

Tìm mời thầy võ nhiều nơi

Cùng bao nho sĩ thất thời nhập gia

Có nhiều hào kiệt người Hoa

200       Trốn triều Thanh đến ẩn qua hiểm nghèo

Chân truyền kiếm pháp côn đao

Binh thư kế chước lược thao trận đồ

Thiên tư vốn sẵn trời cho

Chàng trai Nguyễn Huệ cơ đồ sáng trưng

Tôn sư người Hán lòng mừng

Thì thầm với Nhạc:” Anh hùng tương lai!

đất này gom tụ anh tài

ông nên khởi sự dựng xây nghiệp trời!”

Lòng mừng Nhạc ngó cơ ngơi:

210           Mày râu chí lớn vài mươi anh hào

”Là Vũ Văn Nhậm song đao

Một tay giết đám cường hào hiếp dân

Xả thân vào chỗ bất công

Lấy nhà bọn ác rắc sân xóm nghèo

Tay không vật ngã hùm beo

Trí hùng Hàn tín phải e người này”

”Là Nguyễn Văn Tuyết võ say

nhập thần xuất quĩ lượn bay soãi trườn

Đã từng cướp ngựa Võ Vương

220      Rượu thơ sơn thuỷ yên cương giang hồ”

”Là Vũ Văn Dũng binh cơ

Thập bát ban võ như cờ trong tay

Quan Công nhìn xuống chau mày

Có duyên nợ với nơi này dừng chân ”

”Là Phan dũng sĩ – Văn Lân

Sức xoay tảng đá nghìn cân như đùa

Lũ quan tham chỉ biết thua

Vừa nghe chúng đã lấy bùa ếm tên”

”Là Võ Đình Tú trường côn

230                Thiếu Lâm ẩn náu hạ sơn vẫy vùng

Dọc ngang hồ thỉ ung dung

Thấy điều bất nghĩa lửa hừng chí trai”

”Là Trần Quang Diệu anh tài

Hổ to, anh khẻ vươn vai vật nhào

Đường rừng nhẹ bước tiêu dao

Thiên văn, địa lý -nhìn sao nắm thời”

”Là Bùi Thị Xuân chúa voi

Một tay cung kiếm khó người sánh theo

Thích vui đỉnh núi lưng đèo

240        Mộng xoay chí nữ về neo bến hiền

Theo thầy Ngô Mãnh bao niên

Luyện rèn võ nghệ chờ duyên đồng hành”

”Là Ngô Văn Sở dòng quan

Cháu ngài Đô thống trốn thành ẩn cư

Ngày đêm thương giáo binh thư

Hầu mong gặp hội rồng mây giúp đời”

Cùng bao danh sĩ thất thời

Vây quanh Nhạc, Huệ, Lữ cười giòn tan

*0*

Có nàng tên gọi Hoài Sơn

250       Theo cha lánh nạn dừng chơn nơi này

Cha nàng được Nhạc bái Thầy

Mở trường dựng trại phía tây Kiên thành

Ở đây sơn thuỷ hoà thanh

Suối trong, hồ lặng, rừng xanh, đất hiền

Từ nhà biện Nhạc đi lên

Qua sông thẳng hướng nam triền con khe

Hai bên hoa đá sập sè

Nước trong óng ả nắng nhè nhẹ trôi

Vô tình mấy đoá hoa phơi

260       Ngẩn ngơ màu lạ bướm lơi lả tìm

Trên vòm cây rộn tiếng chim

Cúc cu bìm bịp…lim dim gật gù

Một con hổ nhỏ ưu tư

Cúi nhìn bóng nước gầm gừ nhón chân

Vào sâu con suối rộng hơn

Xoè to một khoảnh xa trông như hồ

Giữa dòng đá trải nước phô

Chép vàng niên trắng lượn lờ rỉa mây

Bức tranh sơn thuỷ như bày

270               Hầm Hô tên gọi nơi này từ xưa

Cả nhà Thầy Hiến như vừa

Sau cơn ác mộng được đưa lại đời

Bốn người quản một cơ ngơi

Một làm trường học ba nơi làm vườn

Sinh đồ dăm kẻ thập phương

Học cùng Lữ, Huệ, Lê Lương- anh nàng

Ngày qua, tháng lại, năm dồn

Lớn dần kí ức vui buồn Huệ- Sơn

Một ngày sau đó năm năm

280        Hai tâm hồn đã thì thầm phận duyên

Dường như họ đã ước nguyền

Dường như hồn mộng vào miền đắm say

Lớn lên trong bóng bèo mây

Mà thân mườn mượt sáng đầy vóc trăng

Mắt nàng đôi mắt long lanh

Đang soi thấu phận mỏng manh đời mình

Bao năm cùng Huệ sử kinh

Bên cha, thầy Hiến trải tình nước non

Lòng theo ngày tháng xanh hơn

290           Nguồn Tây uất cuộn sông Kôn lũ về

Nước tràn cuốn đứt cọc đê

Cành khô củi mục dạt về biển xa

Giữa trời rạng ánh hiền hoà

Nhìn qua phương ấy nhạt nhoà chòm đông

*0*

Một chiều, dạo ở đầu sông

Nhạc cùng thầy Hán dò trông địa hình

Theo lời của bậc chiêm tinh:

”Vùng Tây sơn thượng ẩn hình ngoạ long

Nơi đây thanh khí rất hồng

300               Nên đem hài cốt cụ ông dời về

dọc theo tảng đá trên khe

đó là long mạch tràn trề nghiệp vương ”

Nghe qua lòng Nhạc reo mừng

Cùng em Huệ, Lữ men từng dấu xưa

Xong xuôi, đánh trống dựng cờ

Lòng ông náo nức biến mơ thành đời

Được tin dân chúng nhiều nơi

Tựu về gia nhập mưu cầu diệt gian

Cờ đào áo vải miên man

310           Bày mưu hiến kế bỏ quan biện đồn

Lấy tiền thu thuế nhập công

Tìm mua sắt thép rèn gươm giáo chờ

*

*     *

Một đêm nghĩa sĩ bất ngờ

Giết tên bá hộ tế cờ giữa dân

Bắt hào, lý – bọn bất nhân

Vào kho lấy thóc đem phân người nghèo

Lòng người lại sục tiếng reo

Từ Tây sơn thượng vượt đèo An khê

Lại thêm hai toán quân tề

320       Người Tàu gốc Hán theo về nhập binh

”Xưa là thuộc tướng nhà Minh

Lý Tài – hải soái, Tập Đình – thuỷ đô

Triều Thanh truy quét xa bờ

Nên thân hai tướng dật dờ biển đông

Theo bên một số tuỳ tùng

Tính ra chừng được gần ngàn tinh binh”

Nhạc mừng mở tiệc linh đình

Mời Thung- mưu sĩ khui bình rượu ngon:

”cánh quân phía biển giao ông

330      cùng hai tướng Lý, Tập trông mặt ngoài

chờ khi mở rộng vòng đai

ta trên đánh xuống, ông ngoài đánh vô

giáng vào hai mũi bất ngờ

phen này trấn phủ vắt giò lên vai”

Quay sang Nhạc gợi Lý Tài

Dò thêm tông tích hai ngài tướng tân

”Tập Đình xách nổi nghìn cân

Lý Tài địch nổi muôn quân trận tiền”

Mỗi ông bưng hũ rượu nguyên

340     Một hơi nốc sạch ngửa nghiêng cười tròn

*0*

Trăng vàng gối mặt đầu non

Nhìn thầy trò Huệ hàn ôn tâm tình

Lời Thầy trầm mặc hiền minh

Lấy câu trung nghiã diễn trình thế nhân:

” rằng ta một dạ trung can

sa cơ bởi lão Phúc Loan –gian thần

chờ khi giết bọn bất nhân

lòng ta với Chúa khó phần đổi thay”

Nghe qua Huệ cố tỏ bày:

350    “Chữ  trung nghĩa đến đời nay vẫn nhiều

Thời Lê trước đến Lê sau

trải qua bao bận thay triều đổi ngôi

bây giờ nghiệp Nguyễn tàn rồi

thôi thì thầy chớ bồi hồi thêm đau”

Thầy đem truyện sách bên Tàu

”Nhắc qua Từ Hải một thời hùng anh

nhưng rồi cơ nghiệp không thành

nên thân chết đứng giữa lằn đạn tên ”

Huệ cười:” bởi nghiệp mỹ nhân

360             nên Từ nát thịt tan thân anh hào

nếu không cơ nghiệp càng cao

dân an nước thái sử nào chẳng ghi”

Lời trao tiếng gửi thầm thì

Tàng trăng đã cúi xám chì bóng đêm

Nghe đâu tiếng thở thật mềm

Nghe đâu đó khẻ hương trầm quen hơi

*

*      *

Việc quân bàn định xong rồi

Chia làm hai cánh đúng nơi phục chờ

Mục tiêu tập kích bất ngờ

370 Cánh quân Nguyễn Nhạc trương cờ tiên phong

Lấy khổ nhục kế tiến công

Cũi to nhốt Nhạc trói gông khiêng vào

Nói rằng:” đọc được tin rao

Nay xin lãnh thưởng mong vào báo quan!”

Mười tên xốc xếch áo quần

Mặt mày nhem nhuốc tần ngần chờ tin

Bước ra tuần phủ – Khắc Tuyên

Nheo nheo đôi mắt nhìn xuyên cũi tù :

”đúng là thằng Biện đây ư!

380       Dám suồng tiền thuế rồi u vào rừng

Phen này tao chặt đôi chân

Khoét hai con mắt dằn dân Kiên thành!”

Nói xong giục mở cửa nhanh

Mười tên lem luốc nhọc nhằn khiêng vô

Khắc Tuyên đem rượu một vò

Nói là” ban thưởng! vàng chờ nhận sau!”

Nghe tin dân chúng ùa vào

Chen theo, quân Nhạc ào ào nhảy vô

Khắc Tuyên, xanh mặt, co giò

390              Hô quân nổi trống, kéo cờ động binh

Trống rền lửa trận thầm thình

Đội quân Thung, Lý, Tập Đình tràn qua

Phía trong quân Nhạc đánh ra

Giáp công hai mủi chim sa cá trồi

Khắc Tuyên thừa lúc tối trời

Dắt theo gia quyến một hơi tẩu đào

Quân triều một số chết đao

Số bị hoả hổ thét gào kêu la

Số thì chui trốn trong nhà

400     Phần đông quăng giáo cùng ra qui hàng

Trận đầu thắng lớn vẻ vang

Phủ Qui nhơn điểm một trang sử hồng

Nghiã binh các nẻo xuôi dòng

Đánh qua Tuy viễn, đánh vòng Phù ly

Một đêm thu gọn triều kỳ

Máu người tanh nặc đường đi lối mòn

Nhìn bà mẹ ôm xác con

Nhìn người vợ trẻ nỉ non khóc chồng

Lữ nghe từng nỗi mênh mông

410      Mà trong từng nỗi chất chồng lên nhau

Từ trong từng nỗi ran đau

Trong từng sớ thịt nặc màu máu tanh

”Phải là di sản chiến tranh

Hay di sản đoạn trường thanh phải là”

*

*     *

Mùa xuân một bảy bảy ba

Nghĩa binh Nhạc chiếm phủ nhà Qui nhơn

”Mười chàng khiêng cũi lem nhem

biệt danh Thập hổ nhóm tên thành đồng

Văn Tuyết, Văn Sở, Xuân Phong

420     Đình Tú, Văn Dũng, Văn Long, Hai Dần

Xuân Bảo, Văn Nhậm, Văn Lân

Đem theo côn gỗ giấu trong cũi tù

Bất ngờ phá cũi đánh nhầu

Lính Tuyên đổ máu dập đầu tháo lui”

Nói ra ai nấy phì cười

Ngẫm đi ngẫm lại muôn người đều kinh

*

*    *

3

Lăn tăn sóng gợn sông tình

Chàng trai Nguyễn Huệ tẩm quỳnh trên đao

Vươn vai rạng mặt anh hào

430        Côn quyền kinh sử lược thao gồm tài

Quân trường cùng Nhậm đăng cai

Ngày đêm huấn luyện miệt mài tinh binh

Núi rừng voi ngựa rầm rình

Giáo gươm lẻng kẻng bóng hình xôn xao

Từng ngày quân số dồi dào

Quân cơ ứng biến càng cao trí hùng

Cạnh thầy Trương Hiến sư hưng

Vợ chồng Quang Diệu- Thị Xuân cận kề

Khắp vùng An thái , Xuân huề

440      Cờ đào phấp phới đường quê rộn ràng

Lòng trời rọi xuống ánh vàng

Việc quân đến lúc sẵn sàng xuất chinh

Như nghe ai gọi tên mình

Như nhìn ngọn lửa rung rinh quan hà

Điều gì thôi thúc trong ta?

”Chiến công hay máu hay là niềm riêng

Hay vì quốc thái dân yên?

Hay chăng tất cả hiển nhiên nghiệp đời!”

Bỗng nghe lệnh khẩn triệu vời:

450    ”Đem quân tiếp ứng mặt ngoài Bồng sơn!

Binh triều, ồ ạt như tuôn

dẫn đầu danh tướng Thất Hương vang lừng

cùng con Đính, Chính oai hùng

trương cờ, hạ trại bên dòng Lại Giang

bày trò chiêu dụ gửi sang

Huệ xem đừng để hoang mang quân tình!”

Cùng Lân, Diệu ngắm địa hình

Thăm dò thời tiết, Huệ liền quyết ngay:

”ngàn binh, theo Diệu hướng tây,

460       ngăn dòng sông Lại bằng cây phục chờ

khi nghe lửa hiệu, phá bờ!

mượn giòng thác lũ bất ngờ thay gươm

xong xuống phục ở mé sông

những tên sống sót trói gông dẫn về!

tốc hành cho sớm bờ đê!

hoàn thành đâu đấy, báo về khẩn trương!

còn ta lãnh ấn tiên phuông

ba ngàn binh mã thẳng đường hướng sông

tinh binh hoả hổ dự phòng

470           chờ khi sát địch hỏa công bất ngờ!”

Quân triều đang lúc lơ mơ

Bỗng nghe trống lệnh trương cờ xuất binh

Dẫn đầu Tướng Đính ngang nghinh

Đón côn Đình Tú, giật mình tứ chi

Múa may vài hiệp, ạch ì

Trường côn sấm chớp tiễn đi chầu trời

Hàng ngàn binh mã chơi vơi

Bị hoả hổ đốt kêu trời tháo lui

Cánh quân Thất Chính đành lùi

480   Vượt sông, ngước mặt ngậm ngùi nhìn cha

Giữa giòng chớp lửa sáng loà

Nước nguồn như thác cuốn qua đầu người

Thất Hương khoảnh khắc rụng rời

Nhìn con- hai tướng thân phơi hai đường

Thằng anh lửa đốt thành than

Thằng em nước tiễn mơ màng cuối sông

Tiếng rên kêu khóc nghẽn giòng

Tiếng gươm tiếng súng rít gầm khói mây

Tiếng hô tiếng thét cuồng say

490       Bao nhiêu thứ tiếng lượn bay dày trời

Tướng Hương lòng đứt rạc rời

Tay gươm mặt ngửa nhìn trời thầm than:

”cả đời chinh chiến bao phen

binh thư kế sách dễ hèn một khi

chẳng hay địch dụng kiểu gì?

mà trong chớp mắt ngút nghì lưới giăng!

cũng từ thằng giặc Phúc Loan

mới ra cơ nghiệp tan hoang Nguyễn triều!”

Than xong hồn phách tiêu diêu

500       Hơn hai vạn lính máu điều nghịt sông

Số sống sót dạt ra đồng

Luồn qua lau lách tìm đường lánh thân

Ước chừng trên dưới năm trăm

Bơ phờ gươm giáo dãi dầm đau thương

Phật phờ kéo chạy qua truông

Bị quân mai phục chắn đường bủa vây

Cùng nhau thả giáo buông tay

Qui hàng để được toàn thây về nhà

Đội quân mai phục ấy là

510       Tập Đình cùng với Lý Tài – Nhạc giao.

Hai ngài không chút xuyến xao

Lệnh đám thuộc hạ chém ào một hơi

Ôi thôi! Máu vọt, đầu rơi!

Hơn năm trăm lính động trời thét kêu

Máu thây ứa nghẹt khúc đèo

Khí tanh rờn rợn rít theo tiếng cười

Xông lên ngùn ngụt đất trời

Lùng khừng hướng gió không lời chát cay

Hả hê một lượt sướng tay

520            Kéo nhau về trại bạch bày chiến công

Huệ ra tới đèo Thạch Tân

Nhìn thây quân Nguyễn chất chồng lên nhau

Có tên còn sống ngóc đầu:

“Cầu xin cứu mạng ơn sâu Hải Hà!”

Động lòng, Huệ lệnh kiểm tra:

“Xem ai còn thở, nhanh mà cứu ngay!”

Nghĩa binh vội vả xăn tay

Lôi ra trong đống, tính rày hơn mươi

Liền cho băng bó từng người

530          Tên quân cảm kích buộc lời nói ra:

“Nếu như sớm gặp Hải Hà

thì bao sinh mạng đâu ra nỗi này!

chúng tôi thả giáo, buông tay

xin hàng mà phải thác rày, thảm ghê!”

“-Giận thay cho lũ quân tề!

Hàng quân, sao dám u mê giết bừa?”

Hét xong, lòng Huệ như bưa

Sau lưng Nguyễn Nhạc cũng vừa đến nơi

Anh em bàn bạc một hồi

540        Nhạc lơ việc ấy mượn lời khuyên em:

“Lúc này ta rất cần quân

nếu đem ra xử việc càng rối thêm

đám quân người Hán chông chênh

ai cai quản chúng? Thôi nên làm hoà!

Việc cần kíp nhất đó là:

đóng quân, hạ trại, vạch ra chương trình

bên ta còn quá ít binh

lòng người còn lắm bồng bềnh nỗi lo

qua sông thì phải luỵ đò

550            Thôi vì cái lợi binh cơ hãy cùng!

*

*     *

Vừa qua một trận thư hùng

Chủ Tây sơn – Nhạc, lòng mừng nhìn em:

”Trận này dấu ấn khó quên

thế nào triều Nguyễn cũng gờm quân ta

nhưng chúng đang sợ Bắc Hà:

– ngày đêm quân Trịnh cà rà Linh Giang.

Đội quân ba vạn của Hoằng

đã ra Trường Dục để ngăn mặt ngoài.

Nếu mà quân Trịnh ép đai

560            Quảng Nam lúc đó- con bài tay ta!

Giờ nên trong thế ôn hòa!

tuyển thêm quân số phòng ra tuyến ngoài

Hoặc là xuôi gió ra oai

thẳng đường đánh chiếm đền đài tất luôn!

hướng phòng, hướng tiến đều suông

-Huệ xem! hai hướng ta nên hướng nào?”

Huệ nhìn Thầy Hiến đổi trao

Lời Thầy phân tích thấp cao hai bề:

”-lòng dân chưa định hướng về

570           trước tiên ta phải mượn lề nghĩa nhân

-phao tin dẹp nạn Phúc Loan,

giúp phò minh chúa Hoàng tôn Dương, triều

-mặt ngoài củng cố thế ưu,

mặt trong phát lệnh vượt đèo Cù mông

-khẩn trương chiếm lấy Phú yên!

xuôi vào Bình thuận tạm dừng an dân

-chừng nghe giặc đổi thế công

-thì ta đã nắm chắc phần binh cơ”

Nghe qua lòng Nhạc mở cờ

580 Lệnh truyền Nguyễn Huệ chuyển bờ phía nam

Cùng ba tướng Tuyết, Sơ, Lân

Bốn ngàn binh mã rần rần giáo gươm

Nhìn quân Huệ nghĩ xa gần:

”Dọc vào Bình thuận rất cần thuỷ binh

Quân ta chưa có chiến thuyền

Trước khi xuất phát phải liền sửa sang”

Cho người xẻ gỗ khẩn trương

Đóng thuyền tập trận rập rờn ngày đêm

Thuỷ binh, tướng Tuyết trương buồm

590            Bộ binh Lân, Sở đạp rừng tiến vô

Tiến công hai mũi bất ngờ

Phú yên chớp mắt đỏ cờ Tây sơn

Dặm dài đồi núi chập chùng

Cửa nhà lác đác ruộng vườn lơ thơ

Ngư dân thấp thoáng ven bờ

Một màu xao xác dật dờ khói mây

Tiếng khua binh khí in dày

Mặn tanh dấu lệ mờ cay bụi hồng

Bàng hoàng lòng Huệ phân vân:

600   ”Chiến tranh- giành giựt! bể trầm luân ư?”

”Tà gian? Chính nghĩa? Rằng ừ!

”Một vòng lẩn quẩn gầm gừ lấy nhau”

”Núi sông ngầm ngập máu đào”

”Cỏ cây xơ xác hồ ao nhầy nhùa”

”Còn là được mất là thua ”

”Ngàn năm hai chữ Giặc – Vua xanh giờn”

Thẳng đường vào mở kho lương

Huệ cùng Tuyết, Sở phát thương dân nghèo

Chiêu an mộ lính lần theo

610        Đoàn quân rẽ cánh vượt đèo vào Nam

Thành Diên khánh giặc chẳng kham

Quan quân bỏ chạy dân làng trốn chui

Chiến công đỏ thắm bùi ngùi

Xót xa sủng ướt nụ cười vẻ vang

Bao nhiêu thành quách chói tràn

Phú yên , Bình thuận rỡ ràng bước quân

Ngoái nhìn chớm sắc đông lân

Rừng mai nhuốm lá nhành lan thò ngòi

Tuyến ngoài, Nguyễn Nhạc dò soi

620           Cùng quân sư Hiến cơ trời lắng sâu

Dùng ly gián kế- tờ rơi

”Phò Dương –Thế tử” làm nơi đối đầu

*

*      *

Phú xuân nội bộ rối bời

Hai đầu thọ địch than trời trách mây

Định Vương hớt hãi mặt mày

Phúc Loan tâu bẩm việc này việc kia

Hai phe tranh lấy hai bề

Phe gian nước rút ngả về phe trung:

”Cúi cùng lập hoàng tôn Dương

630      Làm tân Thế tử trấn đường Quảng nam

Trịnh triều – Giao Quốc phó Loan

Thân già chống đỡ cầu an Bắc thành”

Phúc Loan kêu khóc thất thanh:

”-mạng ta sao lại mong manh thế này?

-chúa công, người nỡ ra tay!

-đời ta kết thúc thế này sao nguôi!”

Nguyễn Triều nghĩ đã êm xuôi

Ngờ đâu quân Trịnh chẳng lui lại tràn

Co giò Chúa khóc Phú xuân

640        Xót xa Nam, Ngãi hối thuyền ra khơi

Nhìn cờ quân Trịnh sát nơi

Định vương ngửa mặt lên trời kêu than:

”-lòng trời chẳng đoái Chúa Nam

hai trăm năm nghiệp tro than cả rồi!

-Tiên vương hởi! Tiên vương ôi!

-xót xa biết mấy hồn Người cõi thiêng!

-phải chi giữ được tôi hiền

-thân này đâu nỗi ra miền nước mây!”

Than rồi buồm hướng nam xoay

650    Cùng trăm binh tướng đêm ngày lần vô

*

*      *

Quảng Nam chủ Nhạc dựng cờ

Phú Xuân quân Trịnh reo hò chiến công

Thẳng đường Trịnh vượt Hải Vân

Găp binh Đình Tú rần rần tiến ra

Hai bên xáp trận giữ hoà

Dãn dần khoảng cách tầm xa cánh đồng

Tây Sơn hạ lệnh ngự phòng

Tập Đình xin được lập công chiếm đèo

Dẫn ngàn lính Hán đuổi theo

660    Gặp toán quân Trịnh chân đèo phục vây

Tả xông hữu đột nửa ngày

Cuối cùng thoát được trốn ngay về Tàu

Hai bên hạ trại biên phòng

“Dò tìm giải pháp thuận lòng dân Nam

Trịnh triều, Ngũ Phúc tướng quân

Truyền vời Hữu Chỉnh họp bàn kế hay

Chỉnh rằng:” sách lược như vầy…

– Dụng quân Nguyễn Nhạc! Cánh tay Bắc triều

– Đang đà họ sẽ tiến theo

670   -Tàn binh Vương Nguyễn tan tiêu mấy hồi!”

Tây sơn hạ lệnh di dời

Đóng quân Quảng Ngãi nghĩ ngơi liệu đường

Tiếp thu số lính theo Dương

Gần ngàn binh mã bổ sung mặt ngoài

Đắp đồn sửa luỹ vành đai

Xong giao Tú, Dũng, Diệu cai quản thành

Tăng cường Tướng Đặng Văn Long

Rà theo dọc biển tuần phòng quân gian

Tình hình đâu đó khả quan

680    Nhạc mời Dương, Chất, Hầu sang cùng về

Qui nhơn phủ gió đông se

Đoàn quân chiến thắng ngựa xe vào thành

“Con mừng mẹ em tìm anh

Vợ chồng hoà lệ đã dành bao trăng

Đã đem đổi bấy nhục nhằn

Chờ săm se mặt mà trăn trở lòng

Cuộc đời ôm mãi nỗi mong

Tấm thân bèo bọt giữa dòng nước mây

Vẫn là một khoảng chơi vơi

690              Làm con đò nhỏ nói lời phong ba

Một lần nào đó nhớ ra

Ngày xuân mòn mỏi mùa hoa không về

*

*     *

Đọc thư Chủ Nhạc cà kê

An dân mộ lính đề huề, thư ra:

”-rằng tôi nay muốn cầu hoà

-rất mong quí quốc hải hà lượng trên

-loạn thần Quốc phó đã yên

-chỉ mong làm phận tôi hiền vua Lê!”

Đọc thư, Ngũ Phúc hả hê

700             Sai người về báo Bắc hà chuẩn y

Quảng nam tiếp quản tức thì

Đích thân Hoàng Phúc chỉ huy trong ngoài

Sông Thu bồn tháp đứng soi

Rung rinh tiếng cổ thở dài đáy sâu

Quặn theo dòng nước xanh ngầu

Xác xao bóng trúc âu sầu cỏ hoa

*0*

Mùa đông Giáp ngọ đã qua

Phủ Qui nhơn, Nhạc sửa toà cơ ngơi

”Nhận phong sắc ấn chúa Ngoài

710    Sứ quan Hửu Chỉnh được sai chuyển vào

Chức danh Hiệu trưởng chiếu giao

Quảng nam trấn thủ thẳng vào phương Nam”

Tiếp chỉ xong, Nhạc họp bàn:

”-tạm thời ta đủ thời gian tiến lùi

-quân lương củng cố xong xuôi

-chờ xoay hướng gió châm ngòi khởi binh

-Thọ Hương, ái nữ đang xinh

-ý ta tác hợp thâm tình cùng Dương

-quân sư xem thử nếu tường

720     -ông làm mai mối mở đường giúp nhanh!”

Nghe xong Trương Hiến tán thành

Mời Dương bày tỏ ngọn ngành đôi bên

Lòng Dương đang lúc bấp bênh:

”Nửa mừng nửa sợ nửa tin nửa ngờ

Đành xuôi như bước trong mơ

Nhập vai con tốt ván cờ binh gia

Cùng nàng áo cưới kiệu hoa

Gọi ông chủ Nhạc bằng cha sượng sùng”

*0*

Nhắc qua chúa Nguyễn – Định vương

730     Nỗi lòng vời vợi dặm trường ruỗi dong

Vào thành Gia định điểm quân

Gọi quan tổng trấn Tống, nhanh kiến triều:

”-ý ta hướng thẳng mục tiêu,

dồn quân đánh Nhạc quyết liều một phen

Long hồ, Phiên chấn, Trấn biên

Hợp thành hai đạo bộ thuyền đánh ra

-vì ta giành lại sơn hà

-vì ơn tiên đế bôn ba bao đời…”

Nghe qua Phúc Hiệp lệ rơi

740      Cùng con bốn tướng sáng ngời gươm đao

Chiến thuyền, voi, ngựa rầm rào

Điểm binh ba vạn  ạt ào Bắc chinh

Thế quân như thác xuôi ghềnh

Tướng thành Bình thuận- Lữ đành rút êm

Bỏ Diên khánh cả Phú yên

Dồn quân về phủ Qui nhơn họp bàn

*

*      *

Ván cờ phò chúa sang trang

Quân sư Trương Hiến vội vàng thảo thư

Xem qua, ý Nhạc chần chừ

750              Vội vời Huệ, Lữ thực hư nội tình

Anh em trao đổi anh minh

Làm theo kế sách điều đình chọn Vương

Rằng:” -Hoàng tôn- Thế tử Dương

Mới là kế vị triều đường chúa nam!

Chỉ vì lão giặc Phúc Loan

Định vương cơ hội ngai vàng bấy nay!

Chúng tôi nguyện sẽ chung tay

Mong ngài hợp tác chọn ngày lập Dương!”

Đọc qua, Phúc Hiệp mồm trương

760           Xé thư, trợn mắt ra dường giận căm

Đăng Trường, mưu sĩ thì thầm:

”-ta nên tương kế sang thăm Tôn Hoàng

-mật thư nội ứng cận quan

-ngầm giao Phúc Chất đảm đang việc này

-vờ mời Chưởng Chất sang đây

-để bàn cụ thể chờ ngày hai bên…

-thế nào địch cũng chủ quan

-xuất quân, thủy bộ liên hoàn đánh ta

-dụ cho chúng bước vào nhà

770           -phục binh cánh bắc bung ra giáng đòn

-phía đông áp sát bắn tên

-phía nam hoả lực dập dồn yểm công

-phen này chúng hoá thành rồng

-lên mây lập hội tương phùng cho xong… ”

Qui nhơn phủ, Nhạc nóng lòng

Quân sư Trương Hiến phập phồng nỗi riêng

”Lỡ mà Phúc Chất trốn luôn?

Thì ta chắc phải ôm buồn thiên thu!”

Nhìn thầy giáo Hiến ưu tư

780           Loé trong trí Huệ binh thư sáng ngời

Liền cùng anh cả liệu lời:

”nhận quân hai đạo trận này đảm đương

thuỷ binh tướng Tuyết tiên phuông

bộ binh Lân, Sở, theo đường Cù mông

Diệu cùng Huệ vòng đường rừng

qua cửa Tây phục giáng lưng bất ngờ”

Đồng tình lòng Nhạc vẫn lo:

”lo vì Tống tướng quân cơ lẫy lừng

chỉ huy ba vạn binh hùng

790 Chiến thuyền pháo ngựa trập trùng phòng, trương

lại thêm mưu sĩ Đăng Trường…

nhưng nằm trong thế khó phương chần chừ”

Bên kia Phúc Hiệp gật gù

Chia quân thuỷ, bộ phục chờ bắc, đông

Bốn con- bốn tướng thành đồng

Lạnh ngời gươm giáo rợn nồng tóc tang

Nửa đêm, bỗng tiếng ầm vang

Tây thành ngập lửa khói tràn vào dinh

Xé tai, đạn pháo thình thình

800     Lính trong tán loạn máu tanh loang nhầy

Kinh hoàng, Lão tướng phóng ngay

Băng qua hướng bắc định xoay quân về

”Thấy con- người ngựa xác xơ

Cùng vài trăm lính bơ phờ tẩu dong

Nhìn qua bờ biển phía đông

Tiếng khua binh khí rực hồng khói mây

Quay nhìn rừng núi phía tây

Hoài nghi ông nhủ thế này là sao?

Quân cơ ta đã đón rào

810           Hoá ra nhầm lẫn anh hào Tây sơn!

Trí mưu một cõi thánh thần

Dùng đường thượng lộ đánh ầm vào lưng

Tài thay một bậc anh hùng!

Ngàn năm có một lẫy lừng không hai

Nghiệp Vương nhà Nguyễn đã dài

Cơ trời muốn chuyển vũ đài đang xoay

Tuổi ta nay cũng đã dày

Thôi vì một chữ trung này xin lui”

Than xong, đâm ngực, ngửa cười

820   Phúc Lương, Viết Nghĩa lao người giằng cha

Một dòng máu đỏ trào ra

Thân người còn đứng hồn đà lên thiên

”xót thay một đấng tôi hiền

đem thân trả nghiệp vào miền vô minh

vì sao không mở cửa tình

hướng cho con trẻ lối nhìn thế nhân

hay là mượn chữ trung thần

mà xong cho sớm nghiệp trần lao nhao”

Bầu trời rụng một mảng sao

830     Rừng nghiêng lá thức lào xào ánh dương

Tàn quân Tống Phúc…tận đường

Men theo khe đá qua nương xuống gành

Đi bừa, phó mặc tử sanh

Bỗng nghe phía trước động manh bóng người

Ngập ngời một toán quân tươi

Chừng ngàn mũ áo khác người Tây sơn

Lô nhô đao kiếm rợn rờn

Hướng theo bờ đá ngắn dần tầm trông

Anh em họ Tống phập phồng

840      Phúc Lương ra hiệu nép trong khe chờ :

”Nếu mà họ nhắm vào ta

Quyết liều sống mái đánh ra mở đường”

Bỗng nghe từ phía đối phương:

”-Nguy rồi! Có lính Tây sơn núp kìa!

-Nhìn xem! dọc dưới con khe

-Dường như có tiếng ư  khè, người rên!”

Hoàn hồn Viết Phúc chui lên

Bước ra giáp mặt toán quân bìa rừng

Hai bên thoáng phút phân vân

850           Hỏi nhau mới biết nguồn cơn sự tình

”Là quân Châu Tiếp đồng minh

trước tranh với Nhạc nội tình Qui nhơn

Đoan Chữ, anh Tiếp thác oan

nên tìm quân Nguyễn qui hàng lập công”

Đúng là cơ hội ngàn năm

Tháp tùng tìm hướng vào Nam vội vàng

*

*      *

Sau khi Huệ, Diệu phá thành

Cù mông- Lân, Sở siết công hai đầu

Tây Nam thành, Diệu áp theo

860  Phía đông quân Tuyết đánh nhầu hướng lên

Chỉ trong tích tắc một đêm

Quân triều ba vạn nát mềm như tương

Thương thay ông Nguyễn Đăng Trường

Đưa thân chịu trói như phường Việt gian

Trong ngoài xác giặc ngỗn ngang

Khói xông mùi máu lửa tràn ánh tanh

Qui nhơn phủ , Phú yên thành

Hai mùa chiến thắng long lanh sắc đào

*0*

4

Phúc Dương-Thế Tử nghẹn ngào

870   Khi nghe Phúc Hiệp – Tướng Triều tử vong

Hơn hai vạn lính qui tiên

Ba xe lương thảo vào miền nước mây

Lòng anh ngao ngán đong đầy

Nhìn cô vợ mới nằm say giấc lành

Mới vừa mười bốn xuân xanh

Tí ta tí tửng tập tành nói ăn

Suốt ngày hết áo rồi khăn

Chán ơi! cái số chiếu chăn nghịch đời

Chiều nay Nhạc phụ sang chơi

880             Dương liền bày tỏ những lời tâm can

Rằng:” tôi vốn có duyên căn

Cùng cửa thiền tự quyết lòng đi tu

Mong người mở lượng đại từ

Cho tôi sớm được vào nơi phật đường!

Còn em thê nử Thọ Hương

Ngây thơ trong trắng xin nương nhờ ngài!”

Nói xong, quì khóc nghẹn ngào

Bất ngờ Chủ Nhạc nghe xao xuyến ngùi

Quay nhìn con gái lòng nguôi

890    Ra về mời lại mấy người bàn qua

Thương con lỡ một nhành hoa

Âu là số phận cũng là vận may

Thôi thì cứ tính thế này:

“Có ngôi Thập Tháp gần đây tiện bề

đưa Dương qua đó vỗ về

nếu cần tìm cách ‘Chim về tổ xưa’

Lý Tài đang lúc ầm ừa

dường như hắn muốn đong đưa chuyện gì

nhân đây lập kế đẫy đi

900           Tớ thầy hắn tới đối đầu Định vương”

Nhạc –Thung- Huệ- Lữ bàn cùng

Làm theo kế sách nhị phùng tranh ngôi

*

*     *

Nhắc qua Thầy Hiến- quân sư

Từ khi Phúc Chất ra đi không về

Lòng ông chủ Nhạc như tê

Mối ngờ đậm nét lòng mê nhạt nhoà

Nhạc mời Hiến về khu nhà

Cách Qui Nhơn phủ hăm ba dặm triền

Có cây trái, có hoa viên

910             Gọi là ân nghĩa suốt liền bao năm

Nơi đây không khí tươi hồng

Gần sông suối trước ruộng đồng mát xanh

Nhìn cơ ngơi mới ngọt lành

Lòng thầy giáo Hiến lạnh tanh lụi tàn

Nhìn cô con gái mới đang

“Như nghe vọng nỗi bàng hoàng xót xa

-lòng trung dẫn tới đây à?

Hay ta tuổi đã quá già rồi sao?

Hay do trời đất ba đào

920           Nổi cơn thịnh nộ ào ào càn khôn

Hay từ hai chữ vuông tròn

Muốn cho người biết tiếng thơm quan trường”

Nhìn con hai đứa mà thương

Trong đôi mắt chúng như dường băn khoăn

“Thầy nghe bao nỗi trọc trằn

Bỗng như ai quất vết hằn vào tim

Hồn như đang có ai dìm

Ngất ngư giữa một nỗi niềm trống không”

Nhìn ra trước mặt cánh đồng

930               Nhìn xa xa ấy núi sông kia mà

Nhìn lên trời khói mây là

Nhìn xuống đất thấy một toà cơ ngơi

Hay đây đã định ý trời

Để ta an nghĩ khoảnh đời không đâu?”

Thằng anh:”nó lớn thật rồi!

Đứa con ta nhận từ lâu tay người

Vợ chồng chăm chút dưỡng nuôi

Thông minh nhanh lẹ nói cười dễ thương

Dòng này vốn gốc thư hương

940      Quan trường chém giết tai ương ba đời

Nó về nhằm vợ đẻ rơi

Con Hoài Sơn cũng chào đời oa oa

Tin đồn đây đó gần xa

Song sinh một cặp nơi nhà giáo Trương

Con trai tên Hoài Lê Lương

Con gái là Thị Hoài Sơn bây giờ

Hai mươi năm một giấc mơ

Đời người trôi nổi bến bờ bão giông

Bà Trương ngắn số thờ chồng

950      Ba năm trước, nghiệp má hồng xoá tên

Giờ còn đôi trẻ đứng bên

Ta còn tỉnh táo phải nên tính liền!

Biết đâu mai mốt hoá điên?

Bơ vơ đôi trẻ nghiệp duyên sao đành!

Cùng con nhắc lại ngọn nghành

Rồi nhờ Chủ Nhạc tác thành lứa đôi

*

*     *

Ngày hôn lễ trước mắt rồi

Chờ người tri kỉ nói lời chia xa

Ngày đêm ràn rụa mắt hoa

960      Tàng trăng dõi bước quan hà ngóng tin

Lời về hai tiếng im lìm

Lời đi từng giọt lệ tim canh tàn

Giữa ngày pháo nổ hoa giăng

Mối tình đầu đã vĩnh hằng nơi đây

Trời cao biển rộng đất dày

Trăm năm khoanh lại một ngày đớn đau

*

*     *

Quay qua ông tướng Lý Tàu

Gần ngàn lính thuỷ ra vào cửa Đông

Từ ngày biến mất Tập Đình

970      Lại buồn chúa Nhạc xem mình hồ nghi

Bao lần ông gắng níu trì

Cố tìm ra hướng? lối đi mịt mù!

Nghe tin Thế tử Dương tu

Ở chùa Thập Tháp liền ù vào thăm

Hai bên to nhỏ thì thầm

Một đêm trời tối biệt tăm tớ thầy

Thuận buồm theo gió heo may

Xuôi Nam một mạch vào ngay Thị Nghè

Mượn  đồn đóng trại dựng cờ

980   Phúc Dương thư khẩn ngồi chờ Định Vương

Sự đời lắm lúc khó lường

Thành Nhân giấu Chúa để trườn tay trên

“Cho rằng: gian kế Tây Sơn

Lý Tài là giặc ta nên đề phòng”

Hai bên vào trận thư hùng

Phúc Dương qui tụ phần đông tướng nhà

Năm ngàn quân lính dàn ra

Sài Côn bị hãm xót xa tớ thầy

Thẳng căng hơn quá ba ngày

990   Thành Nhân đành rút ra ngoài rừng Tam

Quân Tài mai phục sau làng

Ào ra chém giết, Thành Nhân rụng rời

Cả ngàn binh sĩ đầu rơi

Một kho lương thảo đi đời nhà ma

Nhìn cơ nghiệp những xót xa

Thành Nhân nén lệ cố nhoà cơn đau

Vào thành cháu chú nhìn nhau

Phúc Dương thế tử ngẩng đầu đăng quang

“-Lỗi này do Quốc phó Loan!

1000 Nay chú giao lại ngai vàng cho con!

quyết lòng đuổi giặc Tây Sơn

sớm khôi phục lại Nguyễn Hoàng cơ ngơi!”

Đăng quang Tân Chính Vương rồi

Chúa Tân tôn Thái Thượng ngôi cho Thuần

“Bính Thân triều Nguyễn Hai vương

ngàn cân sợi tóc tai ương dân lành”

*0*

Nhắc qua chuyện Đỗ Thành Nhân

Chạy về Tam Phụ kiểm quân giận tràn

Bao năm giấc mộng Đông Sơn

1010   Chiêu binh mãi mã sáo đờn một phương

Vưà nhen ánh lửa quan trường

Vinh quang chưa nhận đau thương đã bày

Thù nầy quyết phải trả ngay

Cùng em- Nhân Trập ngày ngày ra công

Lại thêm Võ Tánh Võ Nhân

Là hai tuỳ tướng võ văn song toàn

Khu rừng Tam Phụ ầm vang

Ngựa người cung kiếm xoay ngang hướng thù

*

*     *

Phương nam trời đất âm u

1020 Bóng đen thần chết vây mù lối sanh

“ Một ngai hai chúa tung hoành

Nhường qua tôn lại cho xanh tiếng đời

Mà thân mục rữa rã rời

Ghì ôm cái nghiệp chơi vơi giữa giòng

Trời còn tháng nữa sang đông

Mưa to gió lớn phập phồng xiết bao

Lòng người lại những ngán ngao

Bầu trời lại những ánh sao lạc đường

*0*

Mùa thu Đinh Dậu khẩn trương

1030 Tây Sơn Nguyễn Huệ dựng buồm Nam chinh

Thuyền xuôi hai vạn tinh binh

Cùng mười kiệt tướng oai linh ngút ngời

Cần giờ – cửa biển kia rồi

Đoàn thuyền ghé nghỉ định nơi chiến trường

Huệ giao: “Nguyễn Lữ tiên phuông

Đặng Văn Long phó xuôi đường Đồng Nai

Kèm theo mấy tướng anh tài

Xuân Phong, Xuân Bảo, …trương oai ứng tiền

Mục tiêu đánh chiếm Trấn Biên

1040     Xong phân ba cánh hướng liền ba nơi

Quét ra Bình Thuận một hơi

Chiếm Diên Khánh với ải ngoài Vân Phong!

Xuân Bảo theo hướng Sài Côn

Nghi binh đốt lửa chặn đường Cao Miên

Văn Tuyết, Văn Lộc sông Tiền

Tấn công vào cửa Hàm Luông, Trường Đồn

Vợ chồng Quang Diệu- Thị Xuân

Chia quân mai phục bít đường thoát ghe

Còn ta công phá Thị Nghè

1050 Phủ vây áp lực nặng nề Sài Côn

Cửa thành Nam lối giặc chuồn

Quân ta đã phục kín phương đó rồi!.. .”

Phân công đâu đó xong xuôi

Thực thi quân lệnh lòng người sôi reo

*

*    *

Sài Côn hai chúa ngồi nheo

Vò đầu bóp trán càu nhàu thở ra

Bỗng về tin khẩn từ xa:

“ Trấn Biên, Diên Khánh.. .Thành ta mất rồi!

Quân Tây Sơn bủa khắp nơi

1060 Thị Nghè thuyền chiến ngoài khơi đánh vào!.. .”

Tân vương truyền gọi Lý Tàu

Báo qua sơ bộ trước sau quân tình

Lý Tài dõng dạc phân minh

Rằng :”thần đã có kế binh cả rồi!.. .

nếu mà giặc áp sát nơi

quân ta bốn mặt  quyết  chơi tới cùng

tân Vương đừng quá hãi hùng!

cứ ngồi quan sát chờ mừng chiến công!”

Hai Vương nghe nói điếng hồn

1070      Âm thầm đêm tối lén chuồn cửa Nam

Vài mươi gia quyến cận thần

Len theo mương rạch hướng lần Tiền Giang

Lý Tài biết chuyện bàng hoàng

Hớt ha hớt hãi băng đàng tìm theo

Ngang qua Tam Phụ rừng đèo

Đông Sơn –Quân Đỗ đã neo sẵn rồi

Ôi thôi! Máu chảy, đầu rơi

Gần ngàn lính Hán xác phơi đầy đường

Lý Tài ngửa mặt rút gươm:

1080      “đời ta kết thúc như phường vô danh?

Bao năm bốn bể tung hoành!

Một giây cơ nghiệp tan tành khói mây!”

Than xong đâm ngực thác ngay

“Hồn lơ mơ gặp nơi này hôm qua

Oan hồn vây kín kêu la

Khiêng thây ông Lý treo ra bìa rừng “

Về phần chú cháu Tân Vương

Thuyền xuôi tới trấn Trường Đồn bị vây

Thị Xuân –Quang Diệu sẵn dây

1090           Tóm luôn cả tớ lẫn thầy trói gô

May sao Nguyễn Ánh chìm đò

Cùng em và mẹ trời cho sống còn

Ánh là anh ruột Định Vương

Vừa mười sáu tuổi mặt thon tay dài

Dáng người nhanh nhẹn khoan thai

Mắt long lanh ủ chí trai căng tròn

*0*

Ba người dạt vào cồn con

Sát rừng Tam Phụ Đông Sơn luỹ đồn

Mấy tên lính Trập*  đi tuần

1100     Bắt về giao Đỗ Thành Nhân chủ mình

Thoáng nhìn thấy vị cứu tinh

Ánh như vừa được hồi sinh trở về

Cùng nhau an ủi tỉ tê

Cố che đi nổi ủ ê rã rời

Sau ngày an dưỡng nghĩ ngơi

Ánh đem tâm sự Nghiệp trời triển khai

Viết thư mật báo trong ngoài:

“Tập trung bại tướng lạc loài nguồn cơn

Về rừng Tam Phụ- Đông Sơn

Họp bàn cơ mật việc quân bây giờ!”

Bao nhiêu quân tướng bơ vơ

Nghe tin tìm đến chực chờ hai bên

“Gồm các tướng Lê Văn Quân,

Nguyễn Nghi, Tống Phúc Khuông, Lương và Hồ.. .”

Đồng lòng đổi cách xưng hô

Lập tôn Phúc Ánh cầm cờ Nguyễn Vương

Đỗ Thành Nhân phụ chính trường

Nhân Trập, Võ Tánh, Võ Nhân- hậu cần

Ngày đêm xây dựng cứ quân

Giao lưu giáo sĩ Tây lần hướng ra

*Đỗ Nhân Trập em ruột Đỗ Thành Nhân

Đích thân qua nước Xiêm la

Vay quân mượn giáo về chà dân Nam

Một phen giáo sĩ bất an

Một phen Xiêm quốc kinh hoàng trang sau

*

*     *

5

Tiếng hùng Nguyễn Huệ xôn xao

Quãng nam Gia định rạt rào chiến công

Ba quân quen giọng chuông đồng

Voi rừng qui phục dáng thần uy nghi

Điều binh khiển tướng diệu kì

1130    Giúp anh Nguyễn Nhạc xanh rì cơ ngơi

”Xót thầy giáo Hiến, quân sư

Lòng riêng nghiêng nặng cơ trời bôn ba”

”Đượm buồn phương Bắc trông xa

Thầm mong một mối nước nhà trâm anh

Nghẹn nhìn anh cả uy danh

Khó bề gom nỗi u minh lòng người

Trên vai chí cả thêm vời

Phương Nam lửa khói Đàng ngoài phong ba

Hai nơi đều nước non nhà

1140 Mà tình máu thịt lại là phần thân”,

”Mơ màng đâu đó hương lân

Như nghe đâu đó hoa xuân dáng kiều

Cuộc đời lắm lúc trớ trêu

Tình riêng râm rỉ cô liêu mỏi mòn

Thương hoài cô gái tên Sơn

Oái oăm thân phận chờn vờn nghiệp duyên

Biết đâu thuyền đậu bến hiền

Xua tan con sóng luỵ phiền trong hoa”

*

*    *

“ Còn nguyên giấc mộng Nam Kha

1150     Cùng nàng Sơn thuở nhạt nhoà ước mơ

Mối tình đầu trắng như tơ

Mong manh như khói ngây thơ như Hằng

Có lần ấp ủ chiếu chăn

Nhớ hương đầu nụ trọc trằn chí trai

Thầm mong như liễu Chương Đài

Giữ xanh lời hẹn dặm dài nhánh xuân

Hay đâu giữa cuộc phong trần

Hồng nhan lạc phận tần ngần trúc mai

Quay lưng tháo gót, thay hài

1160    Bước theo số mệnh an bài phận duyên

Còn ta một gánh ưu phiền

Bâng khuâng yên ngựa khắp miền biên cương

Muốn quay ngắm chút nắng vườn

Muốn nhìn tận mặt để tường nét xưa

Mà sao trăng lạnh sương hờ

Xác xao tiếng lá, lơ ngơ bóng người

Ta đành khoá kín ngậm ngùi

Hoà ca chiến sự ngẫm cười lứa đôi

Mai kia đối mặt giữa đời

1170 Trong tim ta vẫn một lời khắc ghi

Trăm năm còn lại cái gì

Bèo tan mây hiệp sinh ly tử lìa

Còn chăng một chút xẻ chia

Trăng tàn đọng giọt sương khuya ướt thềm

Vẽ thành một bức tranh đêm

Ghi thành ca khúc lời mềm như mây

Mang mang khắp nẻo bầu trời

Ngàn năm bàng bạc trên đầu thế nhân

Mới hay cái kiếp phong trần

1180 Thấy cao lại thấp thấy gần lại xa

Bây giờ còn lại mình ta

Đứng bên giòng nước quan hà lắng nghe!

*

*     *

Từ ngày hồng kết tơ se

Lương nam- Sơn nữ xong bề lứa đôi

Nhìn con: ông giáo bồi hồi

Nhìn cha: hai trẻ nhắn lời nói riêng

Lòng Sơn như thả bên triền

Nửa lơ mơ tủi nửa liên miên sầu

Xót xa ôm giọt tình rơi

1190     Ngẩn ngơ nhìn mối tình đầu khói bay

Lòng Lương như ngất ngây say

Như trăng mừng nước như cây mừng mùa

Tối ngày âu yếm săm sua

Bỏ quên cả việc đền chùa đang xây

“Nói qua vài nét người này

Riêng nghề điêu khắc một tay há nhường

Lại thêm có khiếu văn chương

Nói năng hoạt bát múa đờn dẻo dai”

“Cũng xem là bậc anh tài!

1200    Nhiều lần Sơn nhắc:- anh Hai thôi mà!”

“Cũng từ cái tính ba hoa

Nên anh em Nhạc lo xa không dùng”

Qui nhơn gặp buổi tu trùng

Lê Lương được chọn đứng chưn công trình

Dựng thành Hoàng Đế xây dinh

Chạm rồng khắc hổ nắn hình vĩ nhân

Đăm chiêu, nắn nót, quanh quần

Đến nay công việc có phần thảnh thơi

Nhìn theo đường nét đã đời

1210 Vảy Rồng óng ả bệ Trời sáng trưng

Nhìn Lương chúa Nhạc lòng mừng

Giúp ông xoá nỗi ngập ngừng em trai

Chừng nghe ai đó thở dài

Chừng như tiếng vọng bi ai quan hà

*

*     *

Từ ngày úp bóng gương nga

Lòng anh cả Nhạc xót xa đôi phần

Nhìn em những phút phân vân

Soi tìm trong đám quân thần gợi duyên

Cô Bùi- em út Đắc Tuyên

1220 Gia đình trước đã chiêu hiền ban sơ

Một thời Ngô Mãnh cậy nhờ

Diệu- Xuân, Văn Sở sinh đồ võ môn

Một thời Biện Nhạc Kiên đồn

Một thời Giáo Hiến tránh cơn hiểm nghèo

Tâm hồn cô Út trong veo

Tuổi tròn mười tám sắc giàu nét hoa

Người to dáng dấp như bà

Một ngày hôn lễ hai nhà keo sơn

Qua đêm hợp cẩn vài hôm

1230 Khánh thành cung điện Qui Nhơn Hoàng triều

Lập đàn Nguyễn Nhạc lên ngôi

Hiệu vua Thái Đức sáng ngời một phương

Long Nhương là Huệ tướng quân

Nghiệp đời đao kiếm quan trường bôn ba

Bụi hồng vó ngựa đường xa

Chiến bào khói đẫm quê nhà nguôi ngoai

Việc binh vốn sẵn thiên tài

Hành quân thần tốc trong ngoài đều e

*

*     *

Cuối đời phủ chúa đắm mê

1240     Quân tình Trịnh Khải bốn bề rối ren

Thương thân cống Chỉnh chức hèn

Mà lòng thúc giục nắm quyền vẫy vung

Đêm nhìn sao định hướng phùng:

”Qui nhơn là chỗ ắt dung được mình”

Âm thầm cùng vợ con xinh

Lên thuyền rẽ sóng xô kình vào Nam

Nghe tin vua Nhạc động lòng

Đích thân ra đón nỗi mong tận bờ

Về dinh sắp lại ván cờ

1250 Dò nhau tìm nước quân cơ vén màn

Hai bên đắc ý cười tràn

”Thuỷ binh Đô Chỉnh”- chiếu ban trước triều

Lửa lòng Huệ cũng đang thiêu

Giục anh sớm quyết vượt đèo Hải Vân

Cơ trời nghiêng xuống đã gần

Long Nhương , Đô Chỉnh dàn quân tuyến đầu

*

*      *

Trấn thành Thuận Hoá – Ngô Cầu

Vốn dòng họ Phạm từ lâu chí hèn

Hãm tài ám đức đã quen

1260 Hết thời phì nộn giăng đèn cầu an

Hầu xua hồn mộng ma Hoàng

Cả thành quân tướng lớp hàng vái thiên

Chừng nghe trống trận thầm thình

Quan binh hốt hoảng tưởng mình chiêm bao

Nhìn quanh thấy rực cờ đào

Quân Triều luống cuống thả đao qui hàng

Vài ngày tướng khoẻ, dân an

Người hiền, kẻ sĩ rộn ràng nhiều nơi

Nhà nho Văn Kỉ phùng thời

1270 Được Nhương mời đến giao coi trung đường

Một người chính trị văn chương

Một người sách lược chiến trường binh đao

Hai tâm hồn lộng cờ đào

Chung tay thêm trí điểm màu thời gian

Chiến bào nhuộm sắc vẻ vang

Lòng quân phơi phới lòng quan bồn chồn

Nhìn sang phương Bắc sâu hơn

Chỉnh bàn với Huệ:”- nên dồn đánh ra!

-thời cơ đang đến bên ta

1280    -Chỉ cần một trận, Bắc hà hỏng chân!”

Long Nhương lòng những phân vân:

”Nửa lo chí cả nửa ngần ngại anh

Thôi thì ta quyết cho nhanh

Tiến quân khẩn cấp chiếm thành Thăng long”

Lệnh truyền:” -Đô đốc Phan Lân,

-cùng Vũ Văn Nhậm tiên phuông đường đèo,

-thuỷ binh Đô Chỉnh vòng theo

Vị hoàng kho thóc rồi neo thuyền chờ …

-thảo nhanh tờ hịch phò Lê…

1290    -gởi quân Vũ Nhậm chuyển về tay vua!

-trận này chắc chắn Trịnh thua

-quân ta thắng trận trước giờ tin Nam…! ”

Ba quân như thác xuôi ngàn

Tàn binh Trịnh Khải tìm đàng giấu thân

Cùng đường gặp bọn vong ân

Bày mưu bắt chúa tranh phần công lao

”Thương thay từng giọt máu trào

Nhầy bàn tay uất xuôi vào thiên thu”

Cửa Nam thành dạt khói mù

1300      Vua Lê ra đón từ từ cờ trương

Khao quân lòng Huệ đượm buồn

Mắt vua Thái Đức giận còn vói theo

*

*     *

Soi lòng thế trận trong veo

Hầu mong kẻ sĩ Bắc triều thiết tha

Chớp thời Hữu Chỉnh lân la

Bày mưu hiến kế theo đà lập công

Trăng vàng cung cấm qua song

Cửa vua Lê Hiến Tông lồng trước sân

Kiều hoa nhón gót- Ngọc Hân

1310      Giọt trăng rơi ướt tóc xuân mượt mà

Huệ còn lặng trước gương nga

”Lòng phân vân nỗi phương xa bời bời:

”Nhơn tình lắm cảnh trêu ngươi

”Ân tình bao chuyện khóc cười thị phi!”

”Lời tình vọng tiếng thầm thì

”Đời tình mấy chặng đường đi bụi hồng?”

Lao xao sóng dậy tơ lòng

Anh hùng nhi nữ sáng trong ánh tình

Ngoài kia trăng đã buông mành

1320     Giữa hai hồn đã gặp mình trong liêu:

“Phải đâu hồn mộng Thuý Kiều

Phải đâu Từ Hải một chiều thanh lâu

Phải đâu đứng dưới chân cầu

Bốn tay chờ nắm hai đầu sóng xa?”

Nàng rằng:” vọng mãi âm ba

Biết nhau trong mộng mặn mà từ đây

Đời xưa hoá kiếp đời nay

Anh hùng hào kiệt thêm dày nhớ quên

Huệ cười: “Duyên phận do thiên

1330 Ta nào nghĩ chuyện thuyền quyên anh hùng

Hoa xuân hương sắc não nùng

Tấm lòng nhi nữ nghe hừng chí trai!

Sợ đau hai chữ sắc tài

Uổng công lướt khúc dặm dài không tên!”

Nàng rằng: “đã trót chữ duyên

Tự thân nhận được phỉ nguyền ba sinh

Giờ thêm thắm đậm chữ tình

Trăm năm xin khắc hai mình một ta

Trăm năm mong một mái nhà

1340    Cùng người san sẻ sơn hà chung lưng

Ngày mai mỏi bước phong trần

Gác tay mặc niệm chữ tâm đời thường

Hoà theo khúc nhạc dặm trường

Nhập vào nhân ảnh bao chương ngắn dài!”

Long lanh mắt Huệ khôi hài

Làm xanh dòng chảy giữa hai bờ tình:

“Ngáp dài một giấc phù sinh

Tỉnh ra mới biết rằng mình là ta

Loay hoay trên dưới ngôi nhà

1350     Sớm khuya cho nhận vào ra lưng đầy

Có đêm trằn trọc canh chầy

Sau cơn ác mộng cõi này mà kinh

Hiếm hoi thay một chữ tình

Xót xa thay, hởi chữ trinh cuộc đời

Nào đâu son kẻ, phấn dồi

Mênh mông biết mấy sụt sùi cỏn con”

*0*

Ngày hôn lễ rực trướng loan

Thuyền quyên sánh bước Tây sơn anh hùng

Đất trời hoà nhịp vui chung

1360    Thăng Long mở hội tưng bừng như mơ

Ngọc Hân lòng dạ ngây thơ:

”-Chữ ân tình – nguyện tóc tơ đáp đền!”

Huệ cười, nắm lấy tay tiên:

”-Nhờ công quan Chỉnh nối liền Bắc Nam

-Ta còn bao việc phải làm

-ngặt vì một nỗi vua Nam bất bình

-Đàng trong chưa hết đao binh

-Đàng ngoài dân chúng nội tình lo âu

-Bắc Hà không ở được lâu

1370   -chờ vua Nam định, nàng sầu muộn chi…!”

Ngọc Hân rớt giọt thầm thì:

”-một lời chàng đã, thiếp ghi tạc lòng

-kiếp này phận thiếp chỉ mong

-chàng nên nghiệp lớn từ lòng dân ta

-mai kia thống nhất sơn hà

-xin chàng hãy nhớ lời hoa tỏ bày!”

*

*    *

6

Thời gian hạt nước kẻ tay

Lo toan bao việc thêm dày nỗi mong

Hiển Tông hồn bước qua song

1380   Hoàng tôn tài mọn đèo bòng khó khuây

Đành theo ý lũ mặt dày

Lập vua Chiêu Thống làm tay chống chèo

Thuyền buồm cánh gió xuôi theo

Lòng dân dò bước sớm chiều mặn cay

Nỗi lo chưa trút đã đầy

Hai phương dồn lại khoảnh ngày tí teo

Ngọt ngào chưa chín sơn keo

Vua Nam Thái Đức đã vèo ở bên

Tình nhà nghĩa nước thênh thênh

1390 Lòng Nhương đứng giữa chênh vênh chần chừ

Thoáng qua đâu đó tiếng” ừ ”

Lại thêm hai tiếng “từ từ” đi theo

Giật mình ngó trước nhìn sau

Hai đầu vó ngựa trên cầu chiêm bao

Cùng anh cạn đĩa dầu hao

Tỏ bày không đặng càng ngao ngán lòng

Phải đành gút mối tơ đồng

Dây xuân thêm chặt sợi hồng càng son

Ngoái nhìn thành quách chon von

1400 ”Thương thân quan Chỉnh đang còn giấc say

”Đời xưa ai biết chuyện này

”Đời sau ai nhớ đời nay ai tường

”Nghiệp đời Hữu Chỉnh còn vương

”Nên thân nợ vẫn còn nương để chờ”

Tỉnh hồn từ trước tinh mơ

Cha con bôn tẩu theo cờ vua Nam

Gặp nhau Chỉnh – Nhạc cười tràn:

”-Giao ông Chỉnh đất Nghệ an xây thành!”

”-Đáng gờm một bậc tài danh!”

1410  -Băn khoăn lòng Huệ nhập nhằng mối lo:

”Lại thương một phận liễu bồ

”Theo ta nàng dệt bức mơ hiếu tình

”Gam màu tấm lụa phù sinh

”Bàn tay thục nữ sợi tình véo von”

Bên tai vó ngựa câu giòn

Phú Xuân thoáng hiện nước non luỹ thành

”Quyết lòng giấc mộng ba sinh

Sơn hà một cõi cung đình là nơi”

Bâng khuâng cảnh cũng như người

1420        Gặp nơi kì ngộ khó dời chân đi

Một vùng đất nước kiêu kì

Sông thanh núi biếc thầm thì biển dâu

Chừng như hoá giải cơn sầu

Chừng như thanh thoát cái màu trớ trêu

Theo bên tướng giỏi phần nhiều

Nhìn Nhương như muốn nói điều xả thân

Từ Long, Quang Diệu-Thị Xuân

Văn Dũng, Tú, Tuyết, Sở, Lân, Lộc, và…

Quân tình nhấp nhổm, nhấp nha

1430    Vua anh Thái Đức xót xa hồi triều

*

*     *

Về cung lòng nóng như thiêu

Vua Nhạc truyền buổi thiết triều khẩn trương

Hai hàng văn võ cúi buồn

Vương Thung – mưu sĩ tìm phương sách hoà

Không ngờ trúng kế quân ngoa

Anh em – cái hố bất hoà thêm sâu

Lòng vua chất nặng gánh sầu

Một phen trằn trọc ba hồi ngẩn ngơ

Bọn gian chìa mỏ chực chờ

1440 Xui vua giam tất người nhà quan Nhương

Lại thêm một khúc đoạn trường

Nhồi da xáo thịt đẫm chương sử hồng

Thành Hoàng đế những ngày đông

Cửa đầm Thị nại gió giông ngất trời

Cánh buồm chưa vượt xa khơi

Mà trong khoang đã rệu rời cột cây

*

*     *

Sau hơn một tháng đông đầy

Xác xao vườn mẹ hao gầy cành con

Ì ầm đại bác đầu non

1450   Ầm ào sóng dữ ngoài cồn sục sôi

Phương Nam Nguyễn Ánh đổi đời

Sông Gầm, Rạch giá nối lời Tiền giang

Sài côn Gia định ngổn ngang

Lòng dân giữa ngả ba đàng phân vân

Cuối cùng nhờ tiếng Mẫu thân

Nỗi đau máu thịt như lần dịu đi

Anh em xoá mối hiềm tì

Vương Thung mưu sĩ viết di chiếu hoà:

”Phân chia ranh giới làm ba

1460    Trung ương Hoàng đế phủ là Qui nhơn

Phía Nam từ ải Vân Phong

Vào Thành Gia định Lữ Vương nắm quyền

Phía Bắc, Bến ván vùng biên

Bắc Bình Vương Huệ nối liền Nghệ an”

Khoanh chia đâu đó rõ ràng

Một hồi trống lịnh rút quân ra ngoài

Đông tàn lòng cũng nguôi ngoai

Đường về Thuận hoá cành mai rụng mùa

*

*     *

Nhắc qua chuyện trước không thừa

1470   Cha con Hữu Chỉnh như vừa tỉnh ra

Ngược dòng lái cuộc phong ba

Chiêu binh mãi mã xót xa trăm bề

Một thân gánh nghiệp hai quê

Nghệ An canh cánh cửa về Thăng Long

Lòng trời xuôi thuận nỗi mong

Lê Chiêu gọi Chỉnh thong dong quay thuyền

Bắc hà cơ hội dấy lên

Tiếng vang quan Chỉnh nghe rền Phú Xuân

Lòng tham nào có điểm dừng

1480 Lòng ngay nhừ mõi đôi chân đời người

Phương Nam quân Nguyễn khắp nơi

Sóng khơi dòng chảy đỏ ngầu Tiền giang

Lại thêm bọn giặc Tây Dương

Thuyền to súng lớn mở đường đánh ra

Xác xao khốn đốn muôn nhà

Nam bình vương Lữ nhụt xa quay về

Bàng hoàng vua Nhạc tỉnh mê

Sai con vời chú Huệ về sửa sang

Bắc Bình Vương đã sẵn sàng

1490   Ngặt vì Phương Bắc ngai vàng lung lay

Quan tham tá Chỉnh dài tay

Học theo sách Trịnh vẽ mày lấn sân

Bày mưu chiếm giữ Nghệ an

Cử Trần Công Xán, sứ quan thỉnh cầu

Hoàng thân Duy Án dẫn đầu

Vào bàn thượng nghị mượn lời ba hoa

Mĩm cười, Vương sực nghĩ ra :

”-Rõ rồi ! Lão Chỉnh đúng là phường gian

-dụ ông Huỳnh Đức- tướng hàng

1500    -lập bè kết đảng mưu toan ý đồ”

Thất thần, Duy Án cầu cô

Mong tình nhi nữ mở cờ cứu nguy

Ngọc Hân lòng nặng lễ nghi

Bên tình bên hiếu nói gì cho xuôi:

”Lòng như thêm nặng nỗi ngùi

”Tâm như vô cảm nụ cười như ngây

”Âm thầm đứng tựa song mây

”Lòng riêng ai biết nỗi này ai thông

”Trần gian sao lắm bụi hồng

1510   ”Trăm năm một chữ  tơ đồng trêu ngươi”

*

*     *

Tan sương mất hút bóng người

Bờ xa thuyền sứ còn tươi nỗi ngờ

Nghe trào tiếng thét ngẩn ngơ

Dạt dòng máu uất ngái bờ đau thương

Hồn oan rẽ lối vô thường

Lang thang mù mịt vấn vương cõi người

”Cành đào mới đấy đỏ tươi

”Cành mai nhớ thuở vàng rươi sắc hùng

”Chừ thì tất cả mông lung

1520 ”Hai bờ quan tái lạnh lùng xiết bao!”

Trước gương ngấn lệ tuôn trào

Sau gương những mảng máu đào còn tanh

Đoạn trường oanh, đoạn trường thanh

Đoạn trường phương thảo héoxanh bãi dày

”Trăm năm có được mấy ngày

”Sướng vui đau đớn nhốt đầy gương nga

”Trăm năm được mấy ngôi nhà

”Sau trăm năm đó ai đà có nghe

”Bàng hoàng nhìn ngựa kéo ghe

1530 ”Nhìn sông ngược núi nhìn xe thồ đường

”Trời xa biển rộng sao lường

”Thôi thì ta cứ con đường đã quen

”Mong đời bớt chút bon chen

”Mai về cố quận hờn ghen nỗi gì”

*

*     *

Từ Vương tiển sứ ra đi

Tơ lòng mấy khúc tình si mấy bờ

Rồi nàng cúi mặt làm ngơ

Rồi nàng cũng hiểu, hết ngờ vì yêu

Ngọt ngào lại đẹp như thêu

1540  Ngày xuân lại nở lối chiều vàng hơn

Kinh thành dày tiếng sáo đờn

Các quan mũ áo rập rờn bôn ba

Theo về các bậc nho gia

Mưu bàn việc nước cùng ra giúp đời

Trung Thư Văn Kỉ góp lời

Cùng Vương tìm hiểu khắp nơi dân tình

Quan Tư mã Sở luyện binh

Cùng Đô đốc Dũng sân đình núi Bân

Thị Xuân, nữ tướng Tượng binh

1550 Dạy voi lập trận cùng Trần Diệu lang

Văn Tuyết, Văn Lộc, Văn Lân

Cùng Vũ Văn Nhậm- tướng quân trấn đồn

Việc quân thêm những dập dồn

Đợi ngày ra Bắc chớp con sóng thời

Nghe tin, Hữu Chỉnh rụng rời

Cùng con tính chước thay dời thế quân

Hữu Du tâm trạng thất thần

Vua Lê Chiêu Thống tìm đường tẩu dong

Tiên phuông- Nhậm, Sở tiến công

1560 Thương thay Hữu Chỉnh mạng vong trận tiền

Tan tành mộng mị quan quyền

Thân tanh nghiệp chướng một miền nước mây

Nhớ xưa cũng ở đất này:

”Một thời trai trẻ sum vầy xiết bao

”Từng là ông Cống khăn đào

”Bước ra lắm kẻ cúi chào bẩm thưa

”Lòng người sóng giục gió đưa

”Mách bày Chỉnh ván cờ lừa thế nhân

”Ngỡ rằng với ánh mắt thần

1570 ”Xoay quân cờ nghiệp vinh thân toại nguyền

”Xúi Hoàng Ngũ Phúc tướng hiền

”Xua quân đánh Nguyễn vây kiềm Phú xuân

”Định Vương nguy khốn lòng cam

”Bắt Trương Quốc phó giao quan Bắc triều

”Sự đời lắm nỗi trớ trêu

”Phú xuân đỏ mắt khóc mưu Đàng ngoài

”Lại còn bày Phạm Ngô Cầu

”Trấn thành Thuận hoá một thời lánh Ma

”Oan hồn vất vưởng phương xa

1580 ”Hẹn giờ sum hợp oan gia tớ thầy”

”Mới hay cái nghiệp dắt dây

Ngàn năm dường vẫn nặng đầy trong thân”

*

*     *

Vào thành hai tướng Nhậm, Lân

Chiến công thắm đỏ nỗi lòng quê xa

Lân còn một nỗi mẹ già

Nhậm còn một nỗi lời hoa hẹn thề

Từ ngày cách biệt phu thê

Chiến bào khói bụi vỗ về tình riêng

Ngọn lao đã phóng theo triền

1590     Khó mà níu lại mũi duyên nghiệp đời

Gồng mình dạo hết cuộc chơi

Xem chân con tạo di dời tới đâu

Tình cờ quá bước thanh lâu

Gặp người kỹ nữ dãi dầu sắc hương

Lân la một thoáng dặm trường

Tấm lòng nhi nữ càng vương vấn sầu

Nhậm nhìn chưa tỏ hết câu

Nghe trăng vang vọng nhịp cầu như soi

Rằng:”- em chút phận tôi đòi

1600 -Xin ai hào hiệp nỗi đời rong rêu ”

Bên nàng như đĩa dầu khêu

Sáng bùng ngọn lửa mượt màu ái ân

Hai tay ôm tiếng thì thầm

Lời chàng siết chặt hương trầm mê ly:

”-Bên ta em phận nô tỳ

-bên em ta gã tình si dại khờ

-đời tình em trải chiếu thơ

-vui hoang ta lội kín bờ thiên thai”

Hư không buông tiếng thở dài

1610 Gió miền quan tái sỏng soài dưới trăng

Đã rồi gánh nghiệp vào thân

Trăng hoa ong bướm dần lân bao giờ

*0*

Thăng long thắng trận tin về

Bình Vương lên ngựa vượt bờ sông Gianh

Nghe đồn:” tướng Nhậm, phong phanh

lục tìm vơ vét của dân hiếp người

khắp thành ai oán kêu trời

người hiền kẻ sĩ nhạo lời mĩa mai”

Lòng vương sắp sẵn con bài:

1620     ”nhân đây ta dứt sợi dây tơ tình

để ngừa mối hoa đao binh

thế thời phải thế biết đành tính sao!”

Đến nơi quân tướng cúi chào

Lệnh vuơng :” -bắt trói Nhậm vào cột neo”

Mơ màng chưa tỉnh giấc sâu

Nhậm nghe đâu đó :”Than ôi!”- Tiếng nàng

Hồn oan theo gió lên ngàn

Trong mơ còn đẫm giọt vàng thanh lâu

Một thời đạp đất đội trời

1630   Một thời chiến tích rạng ngời châu thân

Một thời sủng ướt nghĩa nhân

Đem cân ngần ấy hoá ngần ấy thôi

Bao nhiêu ánh mắt bồi hồi

Bao nhiêu sắc mặt vẽ lời khen chê

Bao nhiêu cười nụ hả hê

Đem gom cả lại đắm mê con đò

*0*

Lòng Vương bao nỗi tơ vò

Nhìn dân bao nỗi bơ phờ tình riêng

Cũng vì thời cuộc đảo điên

1640    Sĩ hiền đất Bắc một miền xác xơ

Nơi đây còn lạ màu cờ

Trong sâu lắng nặng nỗi ngờ người xa

Từng ngày biến động Hoàng gia

Từng ngày máu đỏ chan hoà áo cơm

Đất thiêng người cảnh thêm còm

Gò trăng thiếu phụ chon von khóc chồng

Bốn bề âm khí triều dâng

Niềm đau lại tiếp chất chồng đớn đau

Lòng Vương càng mở càng nhàu

1650     Tâm Vương chưa tịnh đã lau lách dày

Chiến bào khói nặng hai vai

Đâu người tri kỉ giải bày một phen

*

*      *

Tiếng đồn Vương đải người hiền

Ông Nghè Thời Nhiệm được duyên mời về

Hữu phùng tương ngộ hả hê

Lệnh truyền viết hịch vỗ về lòng dân

Vời ông Huy Ích hiền nhân

Cùng bàn kế sách việc quân sau này

Lòng Vương rưng nắng như  bày

1660   Như trăng mừng nước rắc dày bến sông

Bắc hà như lại mênh mông

Quan Tư Mã Sở coi trông cung đình

*

*     *

Trăm năm cũng một chữ tình

Mấy ai thấy được cái mình với ta

Đã ai thức trọn canh gà

Mà nghe tiếng vọng la đà tàng sương

Trăng nghiêng dài bóng kiều thương

Lao xao vó ngựa bụi đường vàng bay

Lòng Vương canh cánh đôi tay

1670    Hai bờ Nam- Bắc đường say dặm người

Cuộc cờ hoa mở nước tươi

Chiến công! Chém phức nụ cười quân cơ

*

*     *

Biển dâu xanh lá hững hờ

Càn khôn một gánh nặng đò trầm luân

Tàng thu vàng dọc vách rừng

Chùm tơ tưởng rối sợi chùng tóc hoa

Phú xuân dõi bước quê nhà

Dài bao nhiêu nỗi ngọc ngà chưa kham

Mới hay cái nghiệp nhà quan

1680     Ôm thân bèo bọt luỵ tràn kiếp hương

Một đời được mấy vấn vương

Một thân đẫm khúc đoạn trường vi thanh

*

*    *

7

Về dinh ngày đã sang canh

Cung loan sáng lối con oanh hót chào

Tuần trăng hăm mấy hanh hao

Gió miền quan tái theo vào ngõ thu

Trăng e ấp gió chần chừ

Mùi hương rạo rực chừng như ứa tràn

Yếm âu sau phút bàng hoàng

1690 Giọng oanh thỏ thẻ mạch đàn tỉ tê

Trùng phùng trướng động màn xê

Tường Nam sương khói dầm dề mặc nhiên

*

*     *

Trong triều, Nội thị- Đắc Tuyên

Có đôi mắt cáo thâu đêm nhón người

Đôi môi trề trệ ít cười

Phập phồng mũi đỏ nhìn tươi quả đào

Người to béo, dáng không cao

Là anh Hoàng hậu đứng sau hậu trường

Mưu mô cùng nhóm thân vương

1700   Nhon nhen sàm tấu tiến đường vinh hoa

Sớm chiều cung cấm lân la

Phòng loan hoàng hậu châu sa ngập lòng

*

*     *

Giường trăng gối bóng qua song

Gió ngoài xao xác hoa trong rũ rười

Tuồng đời chèo lộng hò vơi

Đoạn trường xuân sắc bời bời tóc xanh

Giận tình nhen dạ chong canh

Cõi riêng một nỗi trĩu nhành tóc tơ

Tàn đêm bấc lụn châu mờ

1710    Mấy lần quan tái lạnh bờ ái ân

Nhìn con, Quang Toản tủi thân

Trách chi mấy đứa cung tần ngẩn ngơ

Chánh cung! Hai tiếng ơ hờ

Nắng treo làn biếc gió mờ vệt son

Sôi reo nước chảy đá mòn

Tàng đông nghiệp lá chon von thân cành

Thầm thì hơi ấm tình anh:

”Giang sơn âu có tan tành cũng thôi

Tấm thân, còn nợ đất trời

1720   Gánh chi thêm nặng nghiệp đời tấc gang

Tưởng chừng cách mấy quan san

Mà trong chớp mắt nát tan ngọt ngào”

Tình gầy nhan sắc han hao

Phấn son mòn thắm hương đào mòn thơm

Lửa ghen ngày một xanh rờn

Lửa căm đêm hực chờn vờn cơn mê

Lời Tuyên thêm thắt tỉ tê

Nhen bùng ngọn lửa u mê sau này

*

*     *

Chừng như trời chuyển heo may

1730 Cành đông bầy khỉ nhíu mày gáy tin

Núi Bân níu bóng Ngự bình

Cờ Đào phấp phới thầm thình trống quân

Bụi binh hồng rực ải quan

Dòng người, voi, ngựa- Ba tầng rung rinh

Sẵn sàng xong cuộc Bắc chinh

Tiếp theo là việc dân tình đang mong

Lên ngôi-  Hoàng Đế Quang Trung

Phát ra bài hịch trùng trùng sóng reo

Nội dung:” vạch tội Lê Chiêu

1740  Qua Tàu cỏng rắn Thanh Triều hại dân:

-Người Tàu, họ vốn dã tâm

ngàn năm xưa biết bao lần xâm lăng!

thời Ngô, Lý nhớ Bạch Đằng

thời Trần- máu giặc Nguyên Mông còn nồng

thời Lê sau, lũ Vương Thông,

Liễu Thăng mượn cớ giúp Trần ùn sang…

Bây giờ thì bọn Thanh Càn

miệng hô giúp Thống, bụng thầm lấn sân!”

Một lời trước mặt ba quân

1750 Rằng :”mồng năm tết vào thành Thăng Long!

-Hởi ba quân hãy một lòng!

-Vì nền độc lập núi sông- Tẩy trần!”

Hai lăm , mười một Mậu Thân

Nhà vua làm lễ ra quân diễu hành

*

*     *

Nhắc Ngô Tư mã Bắc thành

Được tin Chiêu Thống dắt quân Thanh về

Tình hình hỗn loạn tứ bề

Quan binh lo lắng, xóm quê phập phồng

Bóng thù sôi sục tầm trông

1760      Tiếng thù vang vọng núi sông chờn vờn

Nhìn theo thế giặc đậm dần

Sở mời Thời Nhiệm cùng Lân họp bàn

Rằng:” Quân Sĩ Nghị tràn sang,

Thế như thác đổ khó đương lúc này

Chi bằng tạm mở vòng đai

Lui về Tam Điệp lập bài ẩn binh

Thế nào giặc cũng ngang nghinh

Coi thường đối thủ, ta rình úp sau”

*

*     *

Quân Thanh người ngựa chát màu

1770 Dài ba mươi vạn ngập ngời giáo gươm

Lăm le sát khí nườm nườm

Bụi tràn trắng lối khói tuôn mịt bờ

Ầm vang nhịp trống, hiệu cờ

Chia làm bốn cánh càn vô Long thành

”Luỹ đồn trống rỗng vắng tanh

Quân Tây sơn chẳng động manh một bề”

Khề khà Sĩ Nghị hả hê

Bồn chồn Chiêu Thống rề rề nỗi lo

Một bên phè phỡn say no

1780       Một bên ngồi đứng co ro chực chờ

*

*     *

Quân Nam thuỷ bộ trương cờ

Lòng sôi hừng hực cõi bờ loé xa

Thuỷ binh- Đô đốc Tuyết và

Phó Đô Văn Lộc vòng qua Vị Hoàng

“ Quân lương kiểm nhận sẵn sàng

Theo từng quân số đã ban theo vùng

Quân trang, quân dụng tập trung

Kiểm tra binh khí sở trường theo khâu

Xong cho chuyển đến tuyến đầu

1790 Giao cho tướng soái tận nơi lập đồn

Nỗi lòng quân tướng keo sơn

Nỗi lòng chiến trận rập rờn ánh sao”

Bộ binh dòng sóng sôi trào

“Ngày đêm hồ hởi cờ đào tiến ra

Tính hơn mười vạn trẻ già

Giáo gươm lương thực một ba liên hành

Đường lùi sau bước chân nhanh

Bánh đa, bánh tét sẵn dành thức ăn

Tâm can rộn nhịp cánh bằng

1800 Từ Tam điệp tới Chi lăng phục chờ!”

Quân cơ bày sẵn trận đồ:

”Đúng ba mươi tết động cờ khởi binh

mùng năm tết vào Thăng long

mùng bảy tết – lễ khao quân một ngày”

Lời Vua rõ cả như bày:

”quân ta năm đạo việc ai nấy làm,

theo ta, Văn Sở, Văn Lân

tiên phuông cửa chính Nam thành Thăng long

dẹt đường đại bác iểm công

1810 Ngọc hồi thất thủ phá xong tuyến này!”

Quân tình lấp lánh sao lay

Pháo giao thừa nổ rưng ngày chiến công

*

*     *

Quang Trung đứng trước bệ rồng

Bốn bên tướng sĩ rộn lòng tin vui

Cùng đường Nghi Đống ngậm ngùi

Vòng dây oan nghiệp ngoẹo người hám tanh

Vắt giò lên cổ chuồn nhanh

Mảo quan ấn kiếm Nghị đành ném, dong

Sông thây nghẽn đỏ kín dòng

1820 Ba mươi vạn xác đếm còn nửa muôn

Đúng như kế sách Người mong

Ngày mồng bảy tết khao quân trong ngoài

Áo bào khói nặng đen vai

Tượng binh, mã chiến vòng ngoài hí reo

Đường xuân người rạng bước đào

Cỏ cây xanh sửng hồ ao lặng lờ

Dân ngoài như đứng trong mơ

Người trong như đứng dựa bờ sóng say

*0*

Vài trăm năm lại một ngày

1830      Bao nhiêu năm lại đất này bão giông

Cũng là cái nghiệp , cái thân

Đoạn trường khúc hát vi thanh lại chờ

Đang nhìn thực tưởng như mơ

Nghe âm nhạc tưởng lời thơ chập chùng

Dòng người được mấy anh hùng

Dòng sông được mấy cánh rừng soi theo

Đâu ai vững mãi tay chèo

Đâu ai dính mãi sơn keo đời mình

*

*     *

Vòm trời sẻ lặng màu binh

1840 Nhà vua dò bước dân tình chiêu an

Triệu mời văn võ bá quan

Họp bàn củng cố Bắc Nam hoàng triều

Khuyến nông pháp lệnh đê điều

Đăng quang lời hịch bao nhiêu rạch ròi

Từng điều khoản rọi khắp nơi

Quân binh một số về đời nông dân

Sứ thần sang nghị hoà” Thanh”

Xin triều cống để cầu lành dựng xây

Trăm công nghìn việc chất đầy

1850  Lòng vua lắm lúc vơi đầy kỉ cương

Quan trường thời chiến một phương

Thời bình sôi sục chính trường lợi danh

Gờm nhau hai chữ công thần

Chia bè lập phái giật giành quyền uy

Hậu cung hai vách xầm xì

Nội cung hai cánh rầm rì ngay gian

Nhà vua vén lại tấm màn

Nhìn thời đao kiếm bàng hoàng tuổi xanh

”Một thời lướt dưới bóng anh

1860 ”Cây đao thơm nức hương quỳnh thiêng liêng

”Trận nào rúng động bao miền

”Một đêm ba vạn qui tiên quân triều

”Cha con Phúc Hiệp hồn xiêu

”Cha tự vẩn, con bương liều tẩu dong…”

”Trận nào náo động Sài côn

”Thị nghè nghẽn máu Vân đồn nghẹt thây

”Hai tàu chiến lớn bọn Tây

”Cháy vùi sâu dưới bóng mây một bề

”Hai ngài vương Nguyễn hôn mê

1870 ”Quân Tây sơn bắt đưa về trảm ngay”

”Mệnh đời Nguyễn Ánh còn dày

”Vượt vòng số phận cao bay cuối trời

”Từng ngày làm kiếp bèo trôi

”Lênh đênh Xiêm quốc cầu người giúp quân

”Xiêm la nhận lễ cầu thân

”Thuỷ binh, ba vạn rần rần lướt sang

”Thăm dò đầu khúc Tiền giang

”Dàn binh lập trận họp bàn tiến công

”Leo đeo một số tàn quân

1880 ”Mượn câu ‘giúp chúa’ gọi dân hùa lòng

”Giáp Thìn mù mịt cuối đông

”Rạch Gầm chồng chất bềnh bồng thây Xiêm

‘Chiêu Sương’ lết níu ‘Chiêu Tăng’

”Cùng ông ‘Chủng’ném áo quần bơi suông

”Về Xiêm còn mấy thân truồng

”Vua nhìn binh tướng như tuồng hát rong ”

*

*     *

Quang Trung lòng bỗng xa xăm:

”Nhớ hai mươi tuổi cùng anh mưu đồ

Dựng bài Nguyễn Nhạc sa cơ

1890 Trói thân trong cũi khiêng vô Qui thành

Giao quan Tuần phủ lãnh phần

Bất ngờ đánh bật hai đường ngoài trong

Thất thần quân tướng tẩu dong

Mở màn cơ nghiệp Tây sơn thịnh cường

*0*

Lòng Người lại những tơ vương

”Nỗi lòng thầy Hiến chặng đường sử kinh

Năm năm trằn nặng thâm tình

Thêm năm năm nữa nhọc vinh đời Thầy

Cũng vì hai chữ trung ngay

1900 Cũng vì cái nghĩa ơn dày chúa Trong

Cũng vì cả một nỗi mong

Muốn cho xuôi thuận cánh buồm an dân

Mới ra cái nghiệp tâm thần

Phút ra đi vẫn lầm thầm tiếng trung”

*

*     *

Lòng Người lại thoáng ngập ngừng

”Nhớ xưa cùng Nhậm trong rừng luyện binh

Hai bên ngang ngửa trí hùng

Binh thư sách lược kiếm cung vẹn toàn

Chỉ vì một chút hoang mang

1910 Chỉ vì một nỗi rối trong bời ngoài

Anh hùng vướng nghiệp trần ai

Nữ nhi rót lệ dặm dài tình thâm

Nên đành đập hạt tơ hồng

Quẳng xa gánh hoạ luân trầm ngày sau”

*0*

Quay nhìn cô cháu lòng đau

”Thọ Hương vén lệ ôm sầu oán cha

Hai bình cắm một nhành hoa

Hoa chưa phai sắc bình đà vở toang

Xác xao một nhúm hương tàn

1920 Mong manh một mảnh hồng nhan nghiệp tình

Ngán ngao thay giấc phù sinh

Xót xa thay phận lục bình đời sông

Ai se chi sợi tơ hồng

Để cho ai xé chữ đồng làm đôi”

*

*     *

Nhìn vào máu thịt liền nhau

”Nghe tin Vương Lữ  tìm màu tâm linh

Sáng chiều ngồi lặng sân đình

Buông xuôi vào cõi u minh mơ hồ

Quanh Vương tất cả ơ thờ

1930 Bốn bề vạn vật một tờ rỗng không

Việc triều giao hết vua anh

Lịm dần trong cõi tâm thành ra đi”

*

*     *

Lòng Vua từng nỗi vân vi

Lăn tăn bao tiếng xầm xì hậu cung

Hai phương chí cả lại hừng

Giục Người xếp lại sau lưng tơ tình

Quyết lòng một Đấng anh minh

An dân lạc quốc lập trình kinh bang

Cận kề ái hậu Ngọc Hân

1940 Cùng Trung thư Kỉ tính phần hai phương:

”Mặt ngoài lưỡng Quảng: Tây, Đông

xưa là thuộc đất Lạc Hồng vua Nam

nay ta viết chiếu gửi sang

nhắc vua Thanh xét giao bang giới bờ

thuận buồm xuôi gió thì nhờ

bằng không tính chuyện quân cơ sau này…;

phương Nam chờ chuyển heo may

thuỷ binh luyện tập đêm ngày đừng lơ!

bao giờ xong việc cõi bờ

1950 chí ta mới được thoả mơ lòng này!”

Ngọc Hân nhìn Huệ tình say

Tấm lòng nhi nữ ngất ngây anh hùng

Khi ngự triều lúc hậu cung

Hai hình bóng ấy sánh từng bước chân

Cạnh ông Văn Kỉ hiền thần

Có ông Văn Dũng , vợ chồng Diệu Xuân…

Tâm đồng quyết một chữ trung

Phò vua giúp nước ngóng mừng thái an

*0*

8

Nhắc qua Nguyễn Ánh phương Nam

1960 Từ sau khủng khiếp Rạch Gầm thây Xiêm

Nổi trôi cùng đám quân tàn

Chiêu binh mãi mã gian nan trăm bề

Nghiệp đời rối rắm bước quê

Thương em, xót mẹ lòng tê tái lòng

Cơ trời nghiêng xuống nỗi mong

Dân tình khơi dậy ân Hoàng chúa xưa

May sao thời vụ được mùa

Đóng thuyền mua súng săm sua đợi ngày

Trời xui gió dữ hướng Tây

1970 ”Anh em  Nhạc- Huệ xáo cày tình thâm”

Nghe tin vương Nguyễn mừng thầm

Vội mời các tướng họp bàn việc quân

Ánh rằng:” Ta suốt bao năm

Bôn ba sông nước ăn nằm gió sương

Nay trời cho lại nghiệp Vương

Khiến anh em Nhạc ngược đường binh đao

Lòng dân cũng lắm nôn nao

Liệu xem kế sách kế nào là hay?”

Một trong mười tướng ứng ngay,

1980 ”Hạ thần- Võ Tánh xin bày kế quân:

-Lữ vương tâm trạng bất thần!

Dùng ly gián kế ắt thành công thôi!”

Nói xong lấy bút ghi lời

Đọc qua vương Ánh gật đầu cười to!

Đúng y như Tánh liệu dò

Lữ vương trúng kế nghi ngờ Văn Tham

Túng đường Tham mở thành nam

Trá hàng cứu lính, ngửa than lên rằng:

”-nếu trời sinh Huệ là anh

1990       thì Tham đâu có thác oan thế này!”

Cơ trời càng chuyển thế xoay

Vân Đồn Gia Định từng ngày tiến ra

Cửa thành Bình Thuận nhạt nhoà

Quân binh Nguyễn Lữ bụi loà chân mây

Đang vui vương Nguyễn chau mày

Quay nhìn Võ Tánh- nhớ ngày năm xưa:

”anh hắn- ta giết vì ngờ,

mà lòng giúp chúa hắn lờ tình riêng!”

”ta còn cô út chờ duyên

2000 nhân đây tác hợp thuyền quyên anh hùng”

Truyền người sang sửa gia cung

Định ngày hôn lễ chào mừng chiến công

Ngọc Du -Quận chúa tiên dung

Mười năm lưu lạc mà trong như ngần

Tuổi nàng đang chín sắc xuân

Tình nàng vừa chớm cánh hồng chiêm bao

So vai cùng khách anh hào

Tấm lòng nhi nữ dạt dào phấn hương

Đôi môi ướt mọng ánh hường

2010 Đôi chân gót đỏ dặm trường bước xanh

Đôi tay nà nuột như măng

Sáng trong đôi mắt long lanh giọt ngời

*

*     *

Sau đêm hợp cẩn bồi hồi

Chàng trai Võ Tánh ngồi soi đời mình

”Nhìn ra quê mẹ non xanh

Cửa đầm Thị nại sóng gầm gió xô

Theo cha từ thủa bé thơ

Khai hoang lập ấp dựng cờ phương Nam

Lớn lên trong sắc nhà quan

2020    Sân Trình cửa Khổng mười năm dùi mài

Đồng thân lắm kẻ hiền tài

Tùng Châu, Quang Định, Duyệt, Hoài Đức..đương

Cùng về một dạ phò Vương

Cùng đem trí dũng sở trường kinh luân

Tùng Châu là bậc trí nhân

Gốc người ở phủ Qui Nhơn- nho nòi

Tài Lê Văn Duyệt đem soi

Sánh như Từ Thứ một thời nước Ngô

Quang Định, Hoài Đức đâu vừa

2030 Hai tay văn võ nào thua Tiêu*, Phàn*

Lại thêm các vị cựu thần

Nguyễn Nghi, Huỳnh Đức, Văn Thành, Văn Trương…

Thầm vui Võ Tánh nhìn quanh

Sóng nồm gió vỗ ì ầm bên tai

Lao xao biển rộng bờ dài

Quân cờ khua động con bài nhấp nhô

Lòng người còn lắm mơ hồ

Lòng trời còn lắm mịt mờ khói mây

*

*    *

Qui nhơn vua Nhạc hao gầy

2040     Tình nhà việc nước xéo dày tâm can

Từ khi Lữ bỏ phương Nam

Nỗi đau luỵ rượu nỗi căm luỵ đàn

Cung tần mỹ nữ giăng hàng

Việc binh phó mặc quan gian tung hoành

Lòng trời xoay chuyển vòng quanh

Mây đen che khuất bóng thành Qui nhơn

Phú yên quân Nguyễn chờn vờn

Cửa Đông hải khấu rập rờn vào ra

*Tiêu Hà,*Phàn Khoái Hai danh tướng thời Tiền Hán ( Lưu Bang)

Dân tình đói khổ kêu la

2050 Người hiền tản lạc tài ba tẩu đào

Cung đình ngày một xanh xao

Núi sông ngày một hanh hao úa vàng

”Một thời cờ trống hiên ngang

Một thời Thiên đế xuống trần phong Vua

Tan trong chớp mắt như đùa

Rừng Tây sơn thượng cây xưa khô dần

Xót xa cái nghiệp trong thân

Nhựa khô màu héo quả nhân luân hồi

Trách chi đời bạc như vôi

2060 Thầm thương ngắn ngủi cuộc người vinh hoa”

*

*     *

Phú xuân mắt Huệ chan hoà

Nhìn theo sông núi nhìn qua đời mình

Trước ngày Nam tiến động binh

Lòng Vua trằn trọc nội tình hoàng cung

Truyền vời Thời Nhiệm về cùng

Rà xem kế sách chấn hưng trong ngoài

“-việc thay Quốc tự giao ai?

ông xem đảm trách việc này được không?

dạy cho dân học chữ nôm

2070 lập Sùng Chính Viện cảo thơm giữ gìn

đối lưu Hán tự nôm văn

tập cho sĩ tử quen dần chữ nam

-hai là dẹp loạn Đàng trong

định ngày, cử tướng, đang cần bao binh?

-ba là việc Sứ sang Thanh

ông Vũ Văn Dũng chương trình tới đâu ?

bao nhiêu công việc nhập nhầu

cùng ta bàn kỉ để mau tiến hành!”

Đăm chiêu một lúc, Nhiệm rằng:

2080 “- việc thay quốc tự mời thầy La Sơn

thánh hiền làu thuộc nghĩa nhân

thiên văn địa lý thông cầm trong tay

nhìn xa thấy rộng ai tày

kính xin bệ hạ thỉnh ngay thầy về!”

Một ngày bàn bạc hả hê

Về cung lòng Huệ tràn trề nỗi mong

Ngọc Hân tâm trạng phập phồng

Mừng mừng sợ sợ trí lung từng giờ

Mừng là thống nhất sơn hà

2090 Sợ là nhi nữ phòng hoa một mình

Nhưng vì nghiệp cả cũng đành

Xui chồng sớm quyết chớp nhanh thế cờ

Cùng thầy Nguyễn Thiếp đắn đo

“Mở trang sách thánh một tờ trắng không”

Suốt đêm ngồi lặng thư phòng

Ngọc Hân- Nguyễn Huệ gộp lòng ngẫm soi

Lòng thành nàng cố khẩn cầu

La Sơn Phu Tử có lời trong thơ:

“Già kham sao nổi hai vua!

2100      Cuộc cờ phú quí ngựa đùa pháo bay

Trời nam Sơn giống mau gầy!

Phục Ba cột Bắc một cây vẫn còn!

Một sừng thú lạ Tây dương

Mà người chột mắt như dường chưa ra

Bao giờ Nhật Nguyệt quang hoa

Âu ca rạng rỡ giống nhà một khi”

Lạy chào, Nguyễn Thiếp xin đi

Bôn ba về núi vân vi bốn mùa

Bỗng đùng thị nữ vào thưa:

2110 ”Hoàng thượng ngã bệnh hôn mê lâm sàng”

Ngọc Hân chưa hết bàng hoàng

Ba chân bốn cẳng bương ngang sảnh ngoài

Nhìn chồng nhắm mắt xuôi tay

Một dòng máu đỏ cưá dài qua môi

Thái y kẻ đứng người ngồi

Tứ chi nàng cứ rụng rời từng khoang

Quì bên nuốt lệ hai hàng

Nỗi đau nàng thấu tâm can đất trời

Bỗng đâu động đậy mắt Người

2120 Long lanh ánh ướt ngậm ngùi tràn ra

Đôi môi khẻ mở như là

Nói lời chi đó nhưng mà lặng thinh

Dường như máy động lời tình

Từ trong sâu thẳm tâm linh vọng về

Từ trong dày đặc hoang mê

Đơn cô nay lại trả về cô đơn

Cả triều quan tướng dập dồn

Chánh cung Hoàng hậu bồn chồn vào ra

Đắc Tuyên méo mó khóc oà

2130 Trung Thư Văn Kỉ mắt nhoà giọt châu

Thị Xuân, Quang Diệu ôm đầu

Văn Lân, Văn Tuyết đứng ngồi không yên

Văn Long, Đình Tú cố ghiềm

Hai môi tứa máu lặng im cúi đầu

Bỗng nghe tiếng gọi:” Quân đâu!

Trói tên Tuyên lại! chặt đầu cho ta!”

Bao nhiêu đôi mắt chói loà

Giật mình không biết chánh tà ra sao ?

Môi Người mấp máy thì thào

2140 Khép dần ánh mắt đi vào thiên thu

Không gian sầm xuống tối mù

Ngọc Hân hồn phách âm u cõi người

Bắc Hà Văn Sở rụng rời

Cùng Ngô Thì Nhiệm như dời chân bay

Đến kinh đã quá ba ngày

Nhìn màu tang chế trải dày hoàng cung

”Nghe như sóng dậy muôn trùng

Nghe đâu tiếng vọng chín từng mây cao

Nghe đâu trong nỗi nghẹn ngào

2150 Trăm con dao lửa róc cào máu tươi”

Sau ngày tang lễ rũ rười

Chánh cung Hoàng hậu mặt tươi hoá vàng

Nói cười nhảy múa miên man

Tóc tai bù rối dung nhan phạc phờ

Một đêm bà thét trong mơ:

”giết quân bội bạc! ờ ờ! rồi sao?

ha ha! Hắn chết hồi nào?”

Thân bà nằm ngoẻo máu trào khoé môi

Cung tần hoảng hốt kêu trời

2160 Thái y, quan tướng đến nơi tận tường

Mỗi người một nỗi riêng vương

Mỗi trong ánh mắt vô thường gởi theo

Dường như nước mắt đã nghèo

Tiếng than khóc cứ vắng teo bên bà

Gia hầu túm tụm thở ra

Người ruột thịt đứng xuýt xoa vò đầu

Đông cung Quang Toản lầu bầu:

“Mẫu hậu ơi! Mẹ lên trời nữa sao?”

Không gian như chực sôi trào

2170    Khí âm ngùn ngụt ùa vào nội cung

*

*     *

“Nhìn theo cái điểm vô cùng

Chân mây mặt nước ung dung liền màu

Một vùng ánh sáng soi theo

Một vùng bóng tối nhò nhàu giới biên

Vòng theo qui luật khôn kiền

Tạo ra sinh diệt tỉnh điên dòng đời

Đêm qua một ánh sao rơi

Sáng nay vắng mất một người bên ta

Nhìn theo tiếng trẻ oa oa

2180      Thấy trời xưa ánh sao ngà lung linh

Dọc qua một gánh hành trình

Xuyên vào kí ức tâm linh nét ngời

Đò người neo bến chơi vơi

Đường biên nhật nguyệt phán lời cách chia

Miên man một cõi đi về

Giật mình thấy đứng bên lề áo quan ”

Triều đình lần nữa lễ tang

Quần thần lần nữa hoang mang nỗi ngờ

Soi nhìn Thái Tử còn thơ

2190   Đắc Tuyên quyết nắm quân cờ trong tay

Liền vời Xuân, Sở tỏ bày

Chuyện xưa khơi nhớ, chuyện nay đem bàn

Và ngày Vua Nhỏ đăng quang

Đắc Tuyên- Cậu ruột Vua, làm Thái sư

*

*     *

Hoàng triều Cảnh Thịnh âm u

Nỗi lòng binh tướng mây mù bủa giăng

Thái sư Tuyên mở cánh bằng

Săm sua mũ áo lăng xăng uy quyền

Chọn người tâm phúc hữu duyên

2200  Mưu mô lung lạc tôi hiền trong cung

Mũi tên nhắm thẳng Ngọc Hân

Nhắm vào Văn Kỉ- Trung quân, đợi giờ

Bày vua dịch chuyển quân cờ

Đưa Lân, Tuyết, Tú.. đến bờ ải xa

Đưa Dũng ra trấn Bắc Hà

Thay Ngô Văn Sơ- triều ca gọi về

Một vòng vây cánh xum xuê

Một phen mặt mũi hả hê quan trường

Phú Xuân trắng lạnh mù sương

2210 Long môn hiu hắt Triều đường xanh xao

Phương Nam quân Nguyễn sôi trào

Qui Nhơn Nguyễn Nhạc chao dao binh quyền

Mười năm tích tắc cơ duyên

Xong chưa một cuộc bơi thuyền sông mê?

*

*     *

Ngọc Hân, mày mặt ủ ê

Lối ra mờ mịt ngỏ về lạnh tanh

Phòng trăng lửng thửng buông mành

Võ vàng chăn gối hao hanh xuân thì

Giọt cay rát nặng bờ mi

2220 Nỗi trăn trở cứ ôm ghì giấc sâu

”Hồn đang chìm giữa sông sầu

Mà mơ sánh bước lên chầu cùng ai

Vội vàng ghì chặt đôi vai

Than ôi! Mờ mịt hình hài khói sương

Hồn mơ thưởng ngoạn ngự vườn

Chân chưa chạm đất trầm hương lạnh tàn

Hồn mơ tận mặt dung nhan

Bỗng âm u cảnh kinh hoàng máu me

Kiếp này duyên đứt dây se

2230   Ước xin kiếp khác gốc hoè sớm trưa

Ước như Thang Võ vua xưa

Đức sâu tuổi hạc có thừa trăm năm

Cờ đào áo vải thành tâm

Giúp dân dựng nước cát lầm xiết bao!

Ước vua Nghiêu Thuấn đức giàu

Mà Người lượng cả ơn sâu kín dày

Sao đành tuổi hạc sớm bay?

Hoá công ôi! Biết sự này vì đâu?

Nếu cho chuộc được số người

2240 Thì thân này nguyện ngậm cười cùng ai

Để chi mòn mỏi canh dài

Ôm con thơ cõi trần ai khuê phòng

Còn gì đâu để mà mong

Muốn theo để vẹn chữ tòng cho xuôi

Nhìn con, núm ruột ngậm ngùi

Nên đành nấn ná thân người ngu ngơ

Hồn như đang đứng bên bờ

Cùng Người ngự cảnh sông hồ Bồng Lai

Qua Sông Ngân dạo Thiên Thai

2250 Vào cung điện quế, ngắm đài nguy nga

Bỗng đâu xao xác tiếng gà

Bàng hoàng chăn gối nhạt nhòa chiêm bao

”Mơ màng thêm nỗi khát khao

”Ngọc kinh chốn ấy ngày nào tới nơi?”

Lòng nghe bao nỗi bồi hồi

Nguyện đồng sinh trọn sao người vội thay

”Xưa sao sớm hỏi khuya bày

Nặng lòng vàng đá, cạn lời tóc tơ!”

Giờ sao lặng lẻ thờ ơ

2260     Tình khô ái héo bơ phờ ai hay?

”Xưa sao gang tấc gần chầu

Trước sân phong nguyệt trên lầu sinh ca!”

Giờ sao hai cõi cách xa

Câu hàn huyên biết hỏi qua nơi nào?

Nửa cung gãy phím đàn trao

Con thơ côi cút má đào bơ vơ!

Quẩn lòng lắm lúc ngẩn ngơ

Nghe con chim Cuốc vọng bờ đau thương

”Não người thay cảnh tiên hương

2270 Dạ thương quanh quất, mắt thường ngóng trông!”

Nhìn buồm xuôi ngược mái Đông

Nước mây vời vợi mênh mông muôn trùng

Nhìn Tây trời đã ráng hồng

Non cao chất ngất có còn rừng sơn?

Nhìn Nam thăm thẳm ruộng đồng

Nhìn về phương Bắc bềnh bồng trắng sương

”Nọ trông trời đất bốn phương

Cõi tiên thăm thẳm biết đường nào đi ?”

Phép gì tới đó một khi

2280 Dâng lên thường vật ngỏ bày lòng trung

”Này gương là của Hán cung

Ơn trên xưa đã soi chung bao ngày!”

Duyên lành đã lẽ xót rày

Vì ai vội rẽ ai hoài ngàn thâu?

”Xin đưa gương ấy về chầu

Ngỏ soi cho tỏ gót đầu trông ơn!”

Tưởng linh sàng đọng dấu nhơn

Nỗi sinh cơ có thấu chăng cho cùng

”Tân quân còn tuổi ấu xung

2290 Tiên vương sao nỡ quên lòng đoái thương?”

Gót con lẫm chẫm mấy hàng

Chông chênh mũ áo bào hoàng trên ngai

”U ơ ra trước gương đài

Tưởng quang cảnh ấy chua cay dường nào!”

Lục viện rũ liễu, úa đào

Xiêm nghê buông thả xác xao ve gầy

Quê hương mòn mỏi tháng ngày

Tủi duyên chốn ở, đắng cay lối về!

Hàng uyên bệ ngọc tái tê

2300 Cất chân tay khó thương hề xiết chi!

”Hang sâu vẳng tiếng thương bi

Kẻ sơ còn thế huống gì người thân!”

Biệt ly bát ngát khúc trần

Mạch sầu ai tát bao lần cho vơi?

”Càng trông càng một xa vời

Tất lòng thảm thiết chín trời biết chăng?”

Tủi lòng mòn mỏi bóng trăng

Gương nga đã bụi ánh Hằng màu trong

”Nhìn gương càng thẹn tấm lòng

2310 Thiên duyên lạnh lẽo, đêm đông biên hà”

Hoa buồn thêm thẹn đời hoa

Hải đường xuân sắc la đà cành sương

”Trông chim càng dễ đoạn trường

Uyên ương chiếc bóng, Phượng Hoàng lẻ đôi!”

Cảnh nương theo cảnh bùi ngùi

Tiệc vui tìm gặp nụ cười nơi đâu ?

”Phút dây bãi bể nương dâu

Cuộc đời là thế nài hầu được sao?”

Nghĩa tình đất rộng trời cao

2320 Nỗi lòng người sống xiết bao đoạn trường”

*

*     *

Mặt trời vấn Mặt trăng vương

Hai bờ hư thực vô thường xác thân

Áo hoa nhàu nhục bụi trần

Hồng nhan bạc phận- Ngọc Hân là nàng

Thái sư xúi lũ hầu gian

Phao tin lan khắp rằng nàng giết Vua

Cung đình sấm chớp gió ùa

Bắc cung Thái Hậu bị đưa vấn lời

Buộc nàng nhận:” bởi thù sâu

2330 Nên dùng thuốc hiếm lén đầu độc Vua!”

Rồi đem nhân chứng khai bừa

Đớn đau nàng lấy bút hoa tường trình

Nội dung bày giữa anh minh:

”Lời Ai Tư Vãn đẫm tình bao chương

Diễn ca suốt khúc đoạn trường

Một trăm sáu tám dòng hương não nùng”

Triều thần ai nấy lòng rưng

Thái sư Tuyên cũng ngập ngừng đành lui

Lời bi tiếng não ngậm ngùi

2340  Diệu- Xuân, Văn Kỉ ngẩn người nhìn nhau

”Ôi thôi! Sự đã lỡ rồi!

Tiên Vương ôi! Một phận đời đớn đau!

Tiền đồ rã rượi gam màu

Lấy ai rường cột chống neo cơ trời

Phương Nam giặc Nguyễn khắp nơi

Vua Anh Nguyễn Nhạc rệu rời nội cung

Phú Xuân còn mấy anh hùng?

Gian quan lộ mặt vịn lưng cửa quyền

Non sông phen nữa đảo điên

2350 Thôi đành cũng gắng cơ duyên Thiên Hoàng!”

Than xong, vuốt lệ hai hàng

Bải triều quan tướng bàng hoàng ngẩn ngơ

Nhìn theo mây khói hửng hờ

Dặm trường quan tái bơ phờ dấu xưa

*

*    *

9

Hung tin đưa tới bất ngờ

Phú Xuân, Vua đã băng hà như mơ

Hoài Sơn một phút sững sờ

Qui Nhơn một phút ngẩn ngơ quanh nàng

“Nhìn ra khuất mấy quan san

2360 Trông lên bàng bạc màu tang trắng trời

Một điều chưa nghĩ đã rơi!

Hai điều đang nghĩ như rời rạc ra?

Ba điều đã nghĩ nhạt nhòa

Thiên Địa Nhân ấy hoá là thế ư?

Đớn đau ai đáp tiếng ừ ?

Nhớ thương ai rọi vẻ tư lự buồn?

Một vòng hoa kết cánh sương

Một làn hương khiết dòng Kôn lũ tràn

Ì ào con sóng lầm than

2370 Triền miên vồ đập trăng ngàn biển sâu

Nơi đây còn lại một màu

Long lanh kí ức buổi đầu trinh nguyên

Gởi theo cánh gió xuôi triền

Phú Xuân ơi! chốn Cửu Tuyền có hay?”

Lê Lương nhíu trán cau mày:

“Hoá ra cũng đã có ngày này sao?

tưởng đâu thắm mãi cờ đào

để hồn Sơn nữ ta vào mộng du!”

Mười lăm năm đã có dư

2380 Mỗi người một nỗi ưu tư riêng mình

“Lê Lương thầm lặng đinh ninh

Hoài Sơn thổn thức tâm tình nhìn con

Cùng nhau nghĩa vợ tình chồng

Cùng nhau chôn kín lỗi lầm thẳm sâu

Bỗng dưng trời đỗ mưa ngâu

Cành lan huệ lại u sầu dáng xưa

Lê Lương thấy đất như vừa

Nứt ra một lối vặn vừa người đi!”

Lương nghe đâu đó thầm thì

2390   Tiếng ai mà lại vân vi từng lời

“Này này anh Lê Lương ơi!

Vừa con vừa rễ chuyện đời khó tin!

Bỗng dưng nhận được hậu tình

Nhập gia Hoàng tộc linh đình cưới xin

Vừa tròn tám tháng đã sinh

Nay mười lăm tuổi giống anh tí nào?”

“Lòng Lương lắm lúc tự hào

Nhìn thằng An lớn càng cao nỗi thầm

Mặt vuông, mắt sáng, tóc xoăn

2400   Tay dài, vai rộng, da ngâm, dáng hùng

Còn con Thái nhỏ sáng trưng

Mới mười ba tuổi như chừng tròn trăng

Nghề anh vẫn cứ nhập nhằng

Đền đài, thuỷ mạc lăng xăng sớm chiều

Cũng lần nâng chén tao tiêu

Nhìn trang thế sự nói điều bâng quơ”

“Còn nàng từ thuở đến giờ

Chăm hoa bón quả thêu thùa dạy con

Ngày rằm mùng một lên non

2410   Thắp hương lòng nguyện cầu tròn chí ai

Từng đêm mười mấy năm dài

Chữ tình chữ nghĩa chia hai tâm thành”

Bỗng đùng một bức tin nhanh

“Hoài Sơn nghe vỡ tan tành không gian

Sờ môi thấy mặn hai hàng

Nhìn thân thấy đứng trên giàn hoả thiêu

Chồng con một góc liêu xiêu

Cửa nhà một cảnh đìu hiu tận cùng

Bốn bề mây nước mông lung

2420 Dọc bờ lau lách chập chùng bước đêm

Nàng mơ thấy đứng bên thềm

Vòng tay ai đã run mềm bờ vai”

*

*      *

Nghe em Huệ- đã an bài

Xót xa vua Nhạc ai hoài nguồn cơn

Lòng như  tan hết giận hờn

Trí như được mách:”Gia ơn cho đời

Thân rày cạn sức mòn hơi

Hai mươi năm! đã rệu rời tâm can!

Nhám rô bụi phấn ngai vàng

2430 Con trai Nguyễn Bảo không màng bon chen

Lòng quan tướng lại ươn hèn

Phú Yên, Qui Phủ giặc men sát nhà

Vua truyền viết chiếu chuyển ra

Nhường ngôi cho cháu thay cha nghiệp trời!”

Rồi vời quan tướng vào chầu

“Lê Trung, Lê Chất,… âu sầu nhìn vua?

Thành Hoàng Đế bỗng như vừa

Trải qua một cuộc mây mưa rã rời

Cung đình mệt mỏi im hơi

2440   Lơ mơ ánh mắt buông lơi bơ phờ!”

Bàng hoàng Vua thấy trong mơ:

“ Rõ ràng là Huệ mới vừa đâu đây?

Dắt theo ái nữ của Thầy

Trên tay ôm một quả cây Sơn rừng

Nhìn chăm ánh mắt rưng rưng

Ngỏ lời oán trách chưa từng nói ra

bương theo Vua muốn khóc oà

đôi chân vấp ngã giấc ngà tan theo”

Mơ màng hư thực chiêm bao

2450     Bên tai có tiếng thì thào báo tin:

“Rằng nhà quan Kiến trúc Lương

Bà Hoài Sơn đã lên đường theo cha!

Người bà ngào ngạt cánh hoa

Con bà nói :’’ Mẹ đi xa. Đợi về!’’

Bàng hoàng Vua Nhạc nói mê

Rồi truyền binh lính, kiệu xe ra ngoài

*

*     *

Lễ tang sau đó ba ngày

Xác nàng được tẩm hoa đài mật hương

Đúng theo nghi lễ triều đường

2460 “Nội tình lệnh khẩn, thân vương miễn bàn!”

Mộ phần ẩn tại gia trang

Giao quan Hoài với con nàng trông nom

Lòng Vua như thảnh thơi hơn

“ Về cung ngửa mặt cười giòn dưới trăng

Quẳng cha cái nghiệp nhọc nhằn…”

Phú Xuân tin Nhạc vừa băng hôm rồi

Thành Hoàng Đế lại mưa rơi

Nguồn Tây Sơn Thượng tiễn lời thứ ba

Người Qui Nhơn bóng nhập nhoà

2470 Trời Qui Nhơn những cánh hoa rụng dần

Cung đình tang lễ cuối xuân

Văn quan võ tướng lạnh lùng ngó nhau

Thọ Hương công chúa nguyện cầu

Áo nâu sồng lại trắng màu áo quan

Cổng chùa Thập Tháp giăng vàng

Rước cha bài vị linh sàng nơi đây

Thọ Hương nhớ lại những ngày

“ Nhớ năm mười bốn thơ ngây tuổi hồng

Nhớ chiều hôn lễ cuối đông

2480 Cùng Dương Thế tử anh chồng ngô nghê

Người anh đầy ắp vụng về

Tình anh lành lạnh tái tê thế nào?

Đêm về đứng ngắm trăng sao

Ngày ôm đống sách ra vào ngẩn ngơ

Bỗng nhiên biến mất bất ngờ

Bỏ sau lưng nỗi mong chờ mòn xanh

Rồi đùng tin đến chẳng lành:

-Rằng Người vừa đã đoạn đành thiên thâu!”

“Nhớ lần năm ấy cuối thu

2490  cùng trang tuấn kiệt mày râu động phòng

là Vũ Văn Nhậm tướng quân

Tuần trăng giục bước chinh nhân quan hà

Hai năm mỏi liễu mòn hoa

Rồi nhà xáo thịt nhồi da đoạn trường

Còn gì đâu để mà vương

Nên thân xuống tóc nhập đường thiền môn

Thầm mong giải thoát linh hồn

Khỏi vòng tục luỵ chen bon hồng trần

Vọng về từ cõi xa xăm

2500    Người anh hùng đã lỗi lầm chết oan

Hồn vương theo ánh lệ vàng

Thiên thu ôm tiếng oanh than cuối trời

*0*

10

Ầm ào đạn pháo khắp nơi

Thành Hoàng Đế khói lửa người lao xao

Cửa Đông Thị Nại pháo vào

Cửa Tây cung giáo rít gào suốt đêm

Nhìn con hai đứa sau thềm

Quanh bên mộ mẹ như mềm nhũn ra

Suốt ngày ngồi đứng ươm hoa

2510 Thâu đêm ôm sợi khói ngà hương trăng

Nỗi đau nỗi nhớ trọc trằn

Nỗi lo thời thế nỗi căm giận mình

Bao làn sóng rít quanh tim

Lê Lương cúi mặt lặng tìm dấu xa

Theo lời nghĩa phụ nói ra:

“Tổ tiên con vốn họ nhà Nguyễn Vương

sau vì cuộc chiến quan trường

cả nhà bị giết triệt đường nối tông

ta vì đền mối thâm ơn

2520 nên trời sai nhận làm con trong nhà!…”

Lòng Lương lại lắm nhạt nhoà

Mắt cay cay rát trí hoa hoa buồn

“Thì ra vốn gốc thân vương?

Ông trời chưa nỡ tuyệt đường ta đi

Biết đâu thời thế gặp thì

Thân ta lại được lễ nghi triệu mời!…”

Nghĩ rồi Lương ngước lên trời

Qùi bên mộ vợ viết lời từ ly:

“Trường tình khóc phận nữ nhi

2530     mày râu tấu khúc ai bi thay nàng

nơi đây đã khắc đá vàng

Tấm bia gởi lại giọt vàng trăng gieo!”

*

*     *

Bên tai vọng tiếng hiểm nghèo

Trong lòng tiếng giục cheo leo gió ngàn

Cùng con hành lí vội vàng

Nửa đêm đùm túm xuôi đàng hướng đông

Qua vài mươi dặm nương đồng

Leo lên sườn núi chập chùng khói sương

Hai bên cây đá uốn lườn

2540 Trải dày hoa lá một vườn thiên nhiên

Vào sâu thấy một cửa thiền

Vách lưng đá dựng áp nghiêng tựa thành

Bệ hương –mảng đá sáng xanh

Chủ nhân đang bận tâm thành phương xa

Bình minh vén ánh trăng tà

Cha con ngồi giữa Núi Bà tìm phương:

“-Nơi này rừng núi chon von

quan quân chắc chẳng ngó dòm tới chi!

-Ta chờ thời cuộc đổi thay

2550 trái rừng rau muối nơi này lánh thân!

-Hai con lắng dịu tinh thần

cùng chia xẻ cuộc phong trần với nhau!

-Nếu mà quân Nguyễn đến nơi

chắc rằng máu chảy đầu rơi đẫm đường

-Nhà ta nhiều nỗi oan khương

tránh sao khỏi khúc đoạn trường biệt ly!”

*

*     *

Nỗi lo đã đến bên nghì

Quân binh nhà Nguyễn lầm lì súng gươm

Cổng thành Hoàng Đế nập nườm

2560        Đá tên hoả hổ rít ầm bùng rơi

Trong ngoài mùi máu tanh hôi

Xác người thối rữa bọ giòi ngo ngoe

Lại thêm oi bức mùa hè

Đất trời Qui phủ bết be hơi nồng

Dân làng chui rúc ven sông

Đói cơm khát bệnh thây chồng lên nhau

“ Chiến tranh ơi! Đất nhục màu?

Mầm xanh ơi! Đợi cành sau đâm chồi!”

Và ngày kia đã đến nơi

2570     Cổng thành bị phá dẹt rời hai bên

Quân Tây Sơn ngược đường lên

Dòng sông Kôn nước tủi hờn ngoái theo

“Soi bao nhiêu phận đời nghèo

Chở bao nhiêu cảnh bọt bèo trên sông

Trôi bao nhiêu cảnh đợi chồng

Xoá bao nhiêu chữ tơ đồng trêu ngươi”

Tàn quân xao xác bóng người

Rừng Tây Sơn Thượng ngậm ngùi chờ tin

*

*     *

Phập phồng tiếng vọng Phú Xuân

2580 Triều đình Cảnh Thịnh ngập ngừng Đắc Tuyên

Thái sư cố gộp binh quyền

Để xoay thời thế làm nghiêng cơ trời

Bày ra nhiều kiểu ăn chơi

Xui Vua Cảnh Thịnh xa rời việc quân

Rắp tâm hãm hại trung thần

Đày Trần Văn Kỉ vào rừng trông voi

Thay vua viết chiếu triệu vời

Ngầm mưu giết Dũng, Lân nơi Bắc thành

Bó chân Văn Sở, Thị Xuân

2590 Dựt dây Quang Diệu phân vân vòng ngoài

Một mình ôm lấy hai ngai

Đắc Tuyên lật ngược con bài quân cơ

Thị Xuân lòng rối như vò

Nhìn chồng- Quang Diệu đắn đo tỏ lời:

“Tình hình nguy cấp lắm rồi

Nếu ta không quyết ắt trời không dung

Dứt dây thì sợ động rừng

Khó ông Văn Sở đã hừng chí gian

Kèm theo một lũ tham quan

2600 Giăng dây bủa lưới rình rang cung đình

Ta cần động tĩnh cho nhanh

Nhân Tuyên sai Sở Bắc thành âm mưu

Mật thư chuyển trước đánh liều:

‘giết Ngô Văn Sở! Hồi triều giết Tuyên!’

nếu mà thuận gió xuôi thuyền

có khi mối hoạ cũng yên phần nào!”

Vợ chồng cạn chén âm hao

Ngày đêm cẩn mật đón rào kẻ gian

Để cho kế sách chu toàn

2610 Tướng quân Xuân- Diệu phương Nam trương cờ

Cận thần thân tín ngẩn ngơ

Hoang mang nhìn cảnh bến bờ chuyển rung

*

*     *

Phương Nam lòng Nguyễn tưng bừng

Chiêu hiền rộng cửa đón mừng Đặng Siêu

Người này lắm kế nhiều mưu!

“Lê Trung chết ức Quang Huy bỏ mình!”

Thù nhà Lê Chất hàng binh

Theo chân Nguyễn Ánh liều mình lập công

Thành Hoàng Đế- phủ Qui Nhơn

2620    Đổi thành Bình Định khắc tên sơn màu

Nhìn qua Võ Tánh- Tùng Châu

Nguyễn Vương đắc ý gật đầu lệnh ban:

“hai ông chuẩn bị tinh thần

hiệp quan trấn thủ an dân nơi này!

Tàn dư Nhạc phải thẳng tay

Nhổ cho sạch rễ chớ rày buông lơi!

Dò tìm tông tích từng nơi

Như xưa nó giết hết người nhà ta!”

Tùng Châu nghe thế khóc oà:

2630 Lạy tâu Vương Nguyễn xin qua sự tình:

“mong người suy xét anh minh!

làm như thế hoá hẹp tình khó thay!

ngàn xưa cho tới thời nay

tấm lòng minh chúa vòng tay hải hà

đừng vì một chút lo xa

mà quên hai chữ đó là lòng dân!”

Vương nghe, tâm trạng bần thần

Ngó xuôi ngó ngược ra sân thở dài

“Quay nhìn suốt cuộc trần ai

2640    Ăn bờ, ở bụi, rước ngoài, dày trong

Lách luồn bất chấp nghĩa nhân

Miễn sao giành được giang sơn bao đời

Hoàn hồn ngắm lại cơ ngơi

Lâng lâng tấc dạ bồi hồi tâm can

Trong sâu thức nỗi kinh hoàng

Bờ sinh bến tử bàng hoàng máu me

Lôi Vương đi thả Vương về

Dạy Vương cung cách chỉnh tề quyết tâm

Dạy Vương biết nhắm đúng tầm

2650    Mũi tên vận mệnh phải nhằm mục tiêu

Dạy Vương biết lượng hướng chiều

Lượng lui lượng tiến lượng yêu lượng thù”

Mĩm cười, Ánh xoá ưu tư

Quay nhìn em rễ gật gù ngợi khen:

“ ngày mai thống nhất hai miền

Tùng Châu – Võ Tánh một thiên sử vàng!”

*0*

11

Bắc thành, Văn Dũng, Văn Lân

Nhận thư Quang Diệu Thị Xuân nội tình

Tức thời: giết Sở, hồi kinh

2660 Bắt Tuyên Thái Uý chém liền trong đêm

Phanh phui một số tên kèm

Giục vua Cảnh Thịnh giăng đèn chiêu an

Nhưng vua non quá kinh hoàng

Khóc kêu trách mắng ầm vang cung đình

Lòng dân ngao ngán điêu linh

Lòng quân sợ hãi tâm tình hoang mang

Hoàng triều âm khí lạnh tràn

Mỗi quan tướng tựa nấm vàng khói hương

Lờ mờ phép tắc kỉ cương

2670    Một dây oan trái lắm đường rối ren

“Phú Xuân nghìn nghịt mây đen

Còn đâu ánh sáng lắp tên nhắm thù

Còn đây cái cõi âm u

Còn đây cái cảnh tù mù trêu ngươi

Còn trong ánh mắt ngùi ngùi

Rưng trong vàng vỏ nét cười hoàng hôn”

“Mới đây! ngửa đón dập dồn!

Đón hào quang toả rực hồng nước Nam

Đón ngày giặc rã dân an

2680 Đón mùa xuân khúc khải hoàn Thăng long

Đón mời hiền sĩ ngoài trong

Đón ngày mai đất Quảng Đông nối bờ!”

“Còn bao nhiêu việc đang chờ

Bỗng dưng trút xuống bất ngờ chữ tan

Phát ra nghe một tiếng Đoàng

Một vùng trời đất chói chan mảnh hồng

Một vùng tan tác khói bông

Liu riu vào cõi muôn trùng mù tăm

Lan man bao tiếng thì thầm

2690     Lơ mơ bao mớ lỗi lầm lung lay!”

“Giờ đang ngửa mặt hao gầy!

Mà sao chưa thấy một ngày nắng trong

Bầu trời âm ỉ gió giông

Đất long lanh ánh sương hồng cỏ hoang

Mặt người lấm láp mơ màng

Nấp sau vườn chuối vồng lang lén dòm

Đêm về như thấy xa hơn

Ngày sang lại thấy chập chờn giấc khuya

Thêm bao nhiêu ánh đầm đìa

2700 Mong mùa nồm tới bến kia thuyền vào

Hào quang mở cánh ba đào

Khung xưa chờ được lắp vào cửa sanh!”

*0*

Trời Qui Nhơn lại tối tăm

Giòng sông Kôn lại sóng gầm lũ bương

Rừng Tây Sơn thượng bão nguồn

Dân thành Bình Định lệ tuôn hai dòng

Cửa thành dựng kín giáo gươm

Hướng Đông Tuyết, Dũng rập rờn thuỷ binh

Hướng Tây, cờ Diệu xuôi chinh

2710 Cù Mông Long, Lộc thập thình trống quân

Ép vào ba mũi giáp công

Mặt thành Bình Định ngửa trông lên trời

Quan quân nhà Nguyễn rã rời

Nhìn kho lương cạn Tùng Châu than thầm:

“thế cùng đành phải xả thân

tấm lòng trung nghĩa há ngần ngại sao

chỉ mong giảm bớt máu đào

xé thân ta làm tấm phao cứu người!”

Than xong Châu ngửa mặt cười

2720 Cầm chai thuốc độc uống tươi một lèo

Cháy lòng Võ Tánh lao theo:

“Tùng Châu ơi! Kiếp bọt bèo đã tan

Hai ta cũng lắm đá vàng

Chờ ta cởi áo từ quan đi cùng!”

Nói xong, Tánh đóng cửa phòng

Tưới dầu châm lửa rực hồng tấm thân

Lửa lên ngùn ngụt mấy tầng

Lập loè rơi tiếng nghĩa nhân quanh thành

Quân binh buông giáo trốn nhanh

2730 Cờ Tây Sơn cắm giữa thành trống không

Diệu nhìn Dũng, Tuyết nhìn Long

Mỗi quan tướng một nỗi lòng riêng tây

Năm xưa cũng chính nơi này

Sắc màu chiến thắng thắm dày niềm tin

Long lanh chứa biết bao tình

Đậm đà hương tết dịu lành nắng xuân

Giờ sao lửa trận bập bừng

Mà lòng quân lại ngập ngừng chiến công

Mà lòng dân lại phập phồng

2740 Mà lòng quan tướng mông lung bến bờ

Diệu nhìn Châu, Tánh- Đống tro!

Tấm lòng trung nghĩa lờ nhờ hư không

Rồi như lòng lại nhủ lòng

Nhắc anh thực hiện chữ ‘Nhân’cuộc đời

Truyền quân tẩm liệm từng người

Tiễn đưa Châu, Tánh về nơi vĩnh hằng

Xong rồi viết hịch an dân

“Mong dời vận khí vượt tầng thinh không

Mong đem một chữ tơ đồng

2750     Biến dây tơ nhỏ thành vòng hào quang

Biết đâu trong ánh sáng vàng

Nương theo hơi thở nhập tràn vào thân

Phát ra âm tiết giai tầng

Lồng vào tiếng nói nghĩa nhân con người

Lồng vào cuộc thế ngược xuôi

Vòng qua định mệnh mà cười rủi may! ”

“Chữ đồng rọi ánh quang huy

Chữ tâm nghe đã xám chì chân mây

Có khi khuất chữ hao gầy

2760 Mà quên đi chữ đổi thay vận hành

Bảy màu đen đỏ vàng xanh…

Thay bằng màu trắng chữ ‘thành’ đủ chưa?”

*

*     *

Trời hết nắng lại đến mưa

Mùa đông thay áo mùa hè lại sang

Thuyền quân súng pháo giăng hàng

Nguyễn Vương nhìn nỗi giang san nao lòng

Cơ đồ đang ở tầm mong

Phải nhanh để khỏi nhụt lòng ba quân

Trương cờ hướng thẳng Phú Xuân

2770       Nửa đêm đổ bộ lửa bừng khắp kinh

Trước thành, Ánh đứng điều binh

Giục quân áp sát cung đình bao vây

Giăng hàng đốt lửa móc dây

Tầm tên mảnh pháo rắc dày vào trong

Thủ thành Nữ tướng Thị Xuân

Bất ngờ: ‘sợi tóc ngàn cân’ thắt lòng:

“Tiên Vương ơi! Nước cạn dòng

thôi thì sống thác quyết lòng báo ân!

Chỉ buồn một nỗi ấu quân

2780    Ngây ngô hoá một gã đần đáng thương

Tối ngày ham hỉ buông tuồng

Hết gà chọi lại nập nờn cá chim

Hết nhắc Cậu lại xui em

Say sưa gà đá chém hiềm Lê Trung

Thương thay một bậc công thần

Lưỡi đao oan nghiệt đầu thân đoạn lìa

Lòng đau Lê Chất khóc cha

Theo hàng quân Nguyễn mới ra cảnh này

Than ôi! Trời rộng đất dày

2790 Tiên Vương ơi! Nỗi đắng cay bẽ bàng!

Chưa tròn hợp đã vuông tan

Chưa xanh sao nỡ sớm tàn hoa tim?

Chưa căng sao đã vội mềm

Ánh dương lảng tránh bóng đêm mò tìm

Quần thần văn võ lặng im

Ôi thôi! Cơ nghiệp đảo điên mất rồi!

Bao lời tâm huyết đã vơi

Xin trời chứng giám lòng tôi trước giờ!”

Than xong, Xuân phất cao cờ

2800 Thúc voi xông trận đạp bờ địch quân

Chớp lên song kiếm như thần

Ngỗn ngang thây đứt lan tràn máu tuôn

“Giục quân cấm vệ dọn đường

Dắt vua, gia quyến tẩu phương Bắc thành”

Còn mình tả đột hữu xông

Tượng binh hiệp trận ùn ùn đạp bương

Dưới trăng xác chết cựa trườn

Vòm cây loang lỗ tàng sương nhập nhoà

Vòng vây như giãn xa ra

2810   Hướng Tây voi ngựa quân và Xuân dong

Phía sau thành luỹ Phú Xuân

Ầm vang quân Nguyễn hét mừng chiến công

Vào cung Nguyễn Ánh ngước trông

Sân rồng điện ngọc có phần hơn xưa

“Mà sao bụi cát loang mờ

Lô nhô lắm ổ tò vò nhện giăng

Long sàn lành lạnh khói băng

Điện vua rờn rợn bóng trăng oan hồn

Bao năm bão táp dập dồn

2820  Ngờ đâu lá rụng cội nguồn gặp nhau

Hôm nay ta ngẩng cao đầu

Quyết soi chí cả năm châu hả lòng!”

Vương nhìn suốt dọc biển Đông

“Thấy trong thân một con rồng quấn ngang

Thấy mình oai vệ hiên ngang

Hai tay vịn lấy ngai vàng đứng lên

Triều thần văn võ tôn nghiêm

Bắc nam một cõi cúi nghiêng chúc mừng!”

Trong Vương lại bỗng ngập ngừng

2830 “Lòng dân, lòng tướng có cùng vì ta

Có cùng vì một sơn hà

Đấu lưng chung sức can qua bất kì”

Lại nghe bao tiếng thầm thì

Từ thời mở nước vân vi từng lời:

“Rằng con đã nhận mệnh trời

gắng công mang lại cho đời ấm no!

nước ta liền suốt cõi bờ

bắc nam là một sờ sờ ngàn năm

chỉ vì chúa Trịnh dã tâm

2840 tóm thâu quyền lực nẫy mầm cách chia

nay vua Lê đã an bề

Trịnh thì tan rã dạt về cõi không

Muôn dân đã hướng một lòng

Con mau thống nhất Lạc Hồng từ nay!”

Lòng Vương nửa tỉnh nửa say

Nửa lơi nắng nhạt nửa dày mưa thưa

Nửa chín xanh nửa như vừa

Nửa đang đời thực nửa chưa giấc hoè

Nửa còn e ấp sương che

2850  Nửa vương thiên cổ nửa về hoàng kim

Nửa xôn xao nửa im lìm

Nửa môi cười nụ nửa tim sôi trào

Lòng Vương lại những âm hao

“Thù nhà nợ nước biết bao đoạn trường:

Ngoái nhìn bao cảnh tang thương

Anh em chú bác máu xương cấu cào

Họ nhà trải sức cần lao

Di dân mở nước dựng rào biên cương

Cùng dân hùng cứ một phương

2860   Mong giang sơn mới- thiên đường ấm no!

Bỗng đâu dòng lũ bất ngờ

Bương qua cuốn rẹp cõi bờ tổ tiên

May đâu còn chút nhơn duyên

Giúp ta chèo chống con thuyền biển khơi

Giúp ta xoay hướng cơ trời

Lái con thuyền mệnh vào nơi bến bờ

Nhìn vào kẻ tóc chân tơ

Thù nhà không thể ngó lơ căm hờn?

Nguyện lòng truy tróc Tây Sơn

2870 Mẩu xương quyết nhặt oan hồn không tha!

Chờ mai xong việc sơn hà

Ai can gián sẽ làm ma không đầu!”

Vương nghe từng giọt canh thâu

“Phương Nam em gái ôm sầu khóc thân

Gào lên hai tiếng ‘Lang quân’

Đất Bình Định đã thiêu thân cứu thành

Mười lăm lăm mấy chiếu chăn

Mười lăm năm khói phong trần chiến chinh

Dặm xuân vừa bén đêm tình

2880 Đã nghe tiếng giục thầm thình trống quân

Vọng soi chiến thắng vang lừng

Màu trăng quan tái ngập ngừng phấn hương

Ngọc Du- Võ Tánh đoạn trường

Thương em, khóc tướng lòng Vương sóng trào

Bầu trời rụng mấy vì sao

Giang sơn mất mấy anh hào vì ta

Cao xanh dời đổi thiên hà

Con người lèo lái phong ba vận hành

Con người vốn thứ quả xanh

2890    Con người vốn giống hiền lành đười ươi

Bàn tay vồ lấy quả người

Hàm răng cắn lấy quả tươi nhai dòn

Qua sông hồ dọc núi non

Lao xao lố nhố xanh rờn đười ươi!

Ta đây cũng một con người

Làm sao giấu được cái đuôi giống nòi?”

Nghĩ xong Ánh lại phì cười

Nhìn qua cái bóng đười ươi đời mình

*

*     *

Từ thành Bình Định chông chinh

2900     Người dân Bình Định vô tình vua xưa

Lòng quân tướng lắm bơ phờ

Giòng sông Kôn nước lờ nhờ rong rêu

Rừng Tây Sơn Thượng tiều điều

Từng cây sơn giống liêu xiêu khô cành

Bỗng ầm tiếng trống vọng canh

Hung tin cấp báo kinh thành Phú Xuân

“Vua Tôi thất thủ vào rừng

hiện giờ quân Nguyễn truy lùng khắp nơi

triều đình cung cấm tơi bời

2910 tiếng la tiếng thét đầu rơi máu tràn

cả nhà Trần Mẫu chúng giam

Còn Xuân- Đô Đốc hướng Nam ngược vào!”

Nghe qua lòng Diệu nghẹn ngào:

“Mắt đang từng mảnh trăng sao chói loà

Nhìn về dằng dặc phương xa

Nhìn bà cháu dưới mái nhà kinh đô

Nhìn người vợ níu sắc cờ

Cố xoay nền móng cơ đồ vực lên

Bỗng ào mây khói bồng bềnh

2920  Tuôn theo dòng thác lênh đênh chân trời

Quân thần cách trở trùng khơi

Long , Lân đã bỏ cuộc chơi quan trường

Xuân Phong, Xuân Bảo đơn phương

Tuyết, Tú, Lộc ở cuối đường Bắc xa

Nơi này còn Dũng và ta

Lòng quân mệt mỏi sơn hà mong manh

Cố lòng dốc cả bình sanh

Một phen sống mái phải đành thế thôi!”

Nghĩ rồi Diệu quyết thành lời

2930 “Vẽ chương kế sách định nơi trận đồ

Chia ra hai đạo binh cơ

Vòng theo Thượng lộ, men bờ thuỷ quân

-Ta thì cánh bộ Trường sơn

-Còn anh Vũ Dũng trương buồm thẳng ra!

-Cố công gặp được vua nhà

-Thủ thành Trường Dục đợi ta họp bàn!”

Xong truyền phát lệnh ba quân

Cửa thành Bình Định âm thầm bóng đêm

Đường rừng đèo dốc chông chênh

2940 Gặp cơn mưa hạ thác nguồn trắng lăng

Quân lương ngày một khô dần

Lại thêm dịch tả sốt rừng tràn lan

Điểm binh còn lại hơn ngàn

Tong teo thể xác héo hon mặt mày

Cây thương lẫy bẫy đôi tay

Cán cờ gió vuột cuốn bay dật dờ

Diệu nghe từng nỗi bơ phờ

Từ trong sớ thịt qua bờ mắt sâu

Từ trong động tĩnh đứng ngồi

2950 Nghe trong vô vọng nói lời cảm thông

Bỗng đâu có tiếng voi gầm

Rồi nghe quân báo:”Thị Xuân- tướng Bà

Cách đây một đoạn không xa

Cùng hơn trăm lính bôn ba dò đường!”

Diệu nghe như thắt can trường

Dây tơ định mệnh cố hương buổi đầu

“Giữa ngày năm ấy mưa ngâu

Từ ngày năm ấy đôi đầu sớm trưa

Nhìn qua đâu đó như vừa

2960 Trải qua một giấc mơ chưa đuôi đầu!”

“Ước gì được một giấc sâu

Để ta gội sạch mái đầu trắng sương

Cùng ai phơi tấm lụa hường

Giúp cho mặt đất rộng đường nắng soi

Dạy con hai chữ làm người

Chữ trung chữ hiếu một lời khắc ghi!”

“Bỗng đùng trời đất ầm ì

Gió giông sấm sét biệt li nắng đào

Vỡ rơi từng mảng trăng sao

2970 Tóc tang nghẽn rối ngọt ngào tản bay

Xoay người còn ngợ đôi tay

Nhìn vào thì đã an bày như mơ

Đâu ai biết được chữ ngờ

Bao điều may rủi đang chờ phía sau

Đang nhen nhuốm để chuyển màu

Hay gieo hạt tử đợi trồi mầm sanh?”

Từng đêm Diệu ngắm cao xanh

Thiên cơ chừng đã vận hành chuyển nơi!

Thôi đành lui bởi cơ trời

2980   Nhưng còn một nỗi bời bời ruột gan

Người xưa dạy chữ ‘Tam Cang’

Chữ ‘Trung’ được xếp trên hàng ‘Hiếu Nhân’

Con ta cùng với Mẫu thân

Ôm nhau kêu khóc trong hầm thiên lao

Thân ta nếm đủ ngọt ngào

Nỡ lòng để mẹ máu trào đầu rơi?

Chắc đành quì gối chịu lời

Mai sau hậu thế mĩa cười cũng cam!”

Nghĩ rồi, Diệu nói như than:

2990 “Xuân ơi! Một chút đá vàng có nhau!

Ngày mai nắng có đổi màu

Bầu trời Xuân Diệu trước sau vẫn hồng!”

Than rồi Diệu vượt qua sông

Thị Xuân đang đứng vẫy chồng bờ non

Vợ chồng giáp mặt đang còn

Nhìn nhau chưa rạng dập dồn hai tin:

“-Cánh quân Vũ Dũng gãy buồm

Gặp cơn bão xoáy rách tươm ghe thuyền

Hằng ngàn binh lính chết chìm

3000 Vài trăm sống sót lim dim thất thần

Lờ đờ dạt cửa Linh Giang

Gặp Lê Văn Duyệt dẫn quân sục lùng

Xạc xoài từng tốp đói run

Dìu Đô đốc Dũng sốt rừng mê man

Nửa đêm bị bắt cả đoàn

Giải vào giam ở Nghệ An trạm chờ!”

“-Khắp nơi quân Nguyễn lượn lờ

Xuân Phong lâm bịnh xanh mồ Hoành Sơn

Xuân Bảo hộ giá Vua Con

3010 Đánh sau chặn hậu lọt vòng địch vây

Quan binh nhà Nguyễn rải dày

Lần theo dấu vết quân Tây Sơn tàn!

Từ phương Nam ra Nghệ An

Một bờ thông suốt Nguyễn Hoàng điểm binh! ”

Vợ chồng Xuân- Diệu vói nhìn

“Nhìn qua hồi ức nét hình hài xưa

Lặng lờ như bóng mây trưa

Bên giòng sông cũ lưa thưa nắng vàng

Đung đưa hoa lá hương ngàn

3020   Dọc bờ lau lách sóng trườn gió ngân

Mấy vò rượu ủ men lung

Chíp môi còn ngọt khí hùng đất thiêng”

“Diệu nghe giòng chảy xa triền

Bao nhiêu hương vị vào miền mênh mông

Còn bên hai chữ vợ chồng

Ngồi ôm một khối tơ đồng nhìn nhau

Nói rằng duyên trước nợ sau

Mà sao nợ lại nát nhàu duyên xưa

Nợ đời, nợ nắng, nợ mưa

3030 Nợ nơi dưỡng dục nợ mùa máu xương

Nợ trong từng khúc đoạn trường

Hình hài cát bụi khói sương quê nhà?

Trăm năm làm kiếp người ta

Vòng vo qua lại chiếc phà bon chen

Hoá công vẫn một cây đèn

Thân người vẫn cứ nhá nhen triền đời

Chỉ là một cuộc dạo chơi

Hay là một cuộc di dời đỏ đen

Nơi đâu sang nơi nào hèn

3040 Lần mò hụp lặn mùn đen dát vàng

Để rồi tích tịch tình tang

Một vùng mây nước mơ màng chảy qua!”

Lòng Xuân thì cứ nhập nhoà

“Giá như ngày ấy đừng là hôm nay

Giá như trái đất đừng xoay

Vẫn nguyên đường nét râu mày thuyền quyên

Kiếm cung trăng suối hoa triền

Ngao du sơn thuỷ ngửa nghiêng rượu đàn

Lấy gì đâu để thở than

3050     Lấy gì đâu để bàng hoàng nhớ ra

Lấy gì đâu để xót xa

Lấy gì đâu để bướm hoa khô hồn!”

Diệu nhìn Xuân gạt tủi hờn:

“Đổi thân cứu mẹ đền ơn sinh thành!

cho dù có bị ô danh

thịt xương có bị tan tành cũng cam!

Thân dâu ắt phải nghiệp tằm!

Thân sen thì phải nghiệp đầm bùn tanh

Thân dây phải luỵ nghiệp cành

3060 Thân gươm chờ nghiệp máu xanh đoạn lìa

Đừng vì bầy cá lia thia

Mà làm nhem nhuốt nét bia trang đài!”

*

*     *

12

Tháng Năm một tám linh hai

Nguyễn Vương Phúc Ánh lập đài đăng quang

Lên ngôi Hoàng Đế – Gia Long

Đổi Nam Việt thành Việt Nam nước nhà

Dồn quân chiếm lấy Bắc Hà

Tướng Lê Văn Duyệt giá xa chiến trường

Theo bên Lê Chất, Văn Trương,

3070 Nguyễn Văn Thành, Đặng Trần Thường điểm binh

Cờ trương, trống giục thùng thình

Hai đường thuỷ bộ rập rình súng gươm

Quân Tây sơn tản lạc hồn

Chưa thua đã bỏ luỹ đồn rút lui

Từng ngày quân Nguyễn reo vui

Từng ngày Cảnh Thịnh sụt sùi trách thân

Từng ngày dân lính xa dần

Từng ngày đất Bắc bất cần Vua Nam

Hè nhau nói xấu Tây Sơn

3080 Hùa nhau nói tốt Nguyễn Vương bao điều

“Gió nồm mai Gió nồm chiều

Mong cho nồm thổi tấp nhiều điều may”

Xin trời đừng trở heo may

Để thuyền Chúa Nguyễn đêm ngày nhanh ra!”

Bắc thành quân tướng nhập nhoà

Võ Đình Tú, Tuyết lưới sa bỏ mình

Văn Lộc thọ bệnh quyên sinh

Anh em Cảnh Thịnh dân rình bắt giam

Tù nhân áp giải từng đoàn

3090 Vũ Văn Dũng, vợ chồng Xuân chung đường

Đang leo qua ải Hoành Sơn

Bất ngờ gặp toán áo đen cướp tù

Hai bên một trận hoả mù

Năm trăm lính Nguyễn tả tơi chạy dài

Toán quân cướp ấy là ai?

Người đang trước mặt rõ ngài Văn Long

Bốn huynh đệ lại mủi lòng

Nhìn nhau từng nỗi âm thầm riêng tư

Thấy trong ánh mắt mỏi nhừ

3100     Thấy qua đầu óc bù xù rối ren

Mặt trời đêm đốt cháy đen

Mặt trăng mưa ướt nhon nhen khói mờ

Ven rừng trăng trắng hoa mơ

Ven lòng ngờ ngợ nỗi ngờ mang theo

Dũng và Long nhẹ kiếp bèo

Vợ chồng Xuân Diệu nhìn nhau theo tù

Con đường mài tấm thân hư

Lào khào lộc cộc rừ rư bao ngày

Kinh thành trước mặt cờ bay

3110 Thương Trần Quang Diệu chân tay lạnh dần

Xe tù chưa kịp vào sân

Môi anh chưa kịp:”Mẩu thân! một lời!”

Hồn anh đã lướt lên trời

Thân anh trả lại nghiệp đời bụi tro

*

*     *

Phú xuân, quân Nguyễn hét hò

Lớp hàng người ngựa chực chờ lệnh ban,

Tù nhân gông cũi chật sân

Từng ông đao phủ quai hàm bạnh ra

Mặt xanh hai mắt trắng ngà

3120     Lưỡi đao sáng ướt ánh qua thân người

Pháp trường trống đổ hồi tươi

Tiếng đao phầm phập, tiếng rơi phạch phành

Tiếng cười rin rít kẻ răng

Tiếng ai thườn thượt quại quằn tầm trông

Tiếng kêu tiếng rú chất chồng

Tiếng chuông dằng dặc tầng không ngân dài

Một ngày màu máu quánh ngai

Vua Gia Long đứng trước đài tế gươm

Môi Vua lời đặc cuộn cườm

3130 Mắt Vua hốc lửa lườm lườm ánh xanh

Trong ngoài quan tướng lạnh tanh

Từ Siêu, Duyệt, Đức, Văn Thành, Văn Trương,

Quan cơ hội Đặng Trần Thường

Quay ngang trước cảnh đau thương ngút trời

Bỗng nghe tiếng gọi:”- Anh ơi!”

Từ trong Hoàng tộc một người bước ra

Vịn ngai quì xuống khóc oà:

“Sao anh lại nỡ bày ra cảnh này?

Sao anh chẳng chút xót tay!

3140   Chuyện xưa sao lại đời nay truy đòi?

Bà Xuân ngựa xé rạc rời

Con bà voi đạp tả tơi thân gầy

Xác chồng bà cũng băm thây

Mẹ chồng bà cũng bầy nhầy thịt xương

Ai đem chi khúc đoạn trường

Trải ra trước mặt bao chương hãi hùng

Còn trò đào mã bới xương

Khắp nơi đầy cảnh tai ương oan hồn

Xin anh khép lại oán hờn

3150   Dừng ngay cho! Kẻo chẳng còn kịp đâu!”

Tiếng kêu thiếu phụ thấu trời

Gia Long vuốt mặt âu sầu nhìn em:

“Ngọc Du! Đừng quá yếu mềm!

Năm xưa chúng nó ngày đêm sục tìm

Giết lầm không bỏ sót tên

Cả dòng họ Nguyễn dập dềnh thân ta

Bây giờ thống nhất sơn hà

Muốn cho quốc thái dân hoà phải toan!

Chồng em- Thân cháy ra than

3160   Sao em không xót? Kêu vang nỗi gì?

Lui vào hãy cố im đi!

Quốc gia đại sự nữ nhi miễn bàn!”

Vua nhìn văn võ bá quan

Thấy lưng đáy mắt bụi vàng xốn xao

Thấy trong từng mảng máu đào

Tiếng rên nhầy nhụa tiếng trào lun run

Tiếng cười sằn sặc máu phun

Tiếng ai oán giọt lùn phùn mưa rơi

Vua nghiêng ánh mắt theo người

3170    Nói thêm câu để gút lời năm xưa

“Ngày mai ngưng chém tội đồ

những tên còn lại truyền đưa đi đày!”

Ba người sống sót đứng ngây

Một già hai trẻ chân tay gông cùm

“Người già tóc chấm tới lưng

Râu dài tới ngực ngập ngừng nhìn con

Người trai thân thể gầy mòn

Tóc xoăn bù rối che vòm mắt sâu

Người con gái mặt héo sầu

3180     Ngoài hai mươi tuổi áo nâu chốn thiền

Ba người đứng trước cửa duyên

Tấm thân còn vướng nghiệp tiền chưa xong

Chữ sanh chừng đã muỗi mòng

Chợt nghe chữ tử tuột giòng qua phiên

Bây giờ đứng dựa bên triền

Mà nghe thời khắc giục miền ải xa

Lại chờ nhập hội phù hoa

Lại chờ một cuộc vấn tra cội nguồn!”

“Người già là Hoài Lê Lương

3190   Mười năm rau muối tránh đường binh đao

Mười năm ngồi ngắm trăng sao

Nhìn trang thế sự ba đào đổi thay

Thằng An quanh quẩn cỏ cây

Chí trai chôn dấu vui vầy khói sương

Đêm về con Thái trầm hương

Câu kinh tiếng kệ bên vườn mẹ xưa

Tưởng Trời dịu nắng nhẹ mưa

Ngờ đâu Vua Mới truy về tận nơi

Cha con ngước mặt ngậm lời

3200  Xuôi tay xiềng xích buông đời hố đêm

Tấm thân giờ đã rũ mềm

Tâm can giờ đã lặng im sóng trần

Cũng đành thả mặc đôi chân

Bước theo con tạo qua tầng biển dâu

Lắc lư giữa bến sông sầu

Bỗng nghe tiếng vọng giấc sâu đoạn trường

Từng lời ai oán bi thương

Lan ra từng ngụm sóng hương não nùng

“Một bà tóc xõa ngang lưng

3210   Ngồi ôm cửa ngục chờn vờn áo xiêm

Dường như ánh mắt dõi tìm

Chút hương trầm mặc cuối miền hư không

Hai tay vuốt bóng tơ đồng

Hai chân duỗi đạp nỗi trong phạc phờ

Mắt bà rơi những ánh thơ

Môi bà rơi những chùm tơ dát vàng

Rồi như làn sóng lang thang

Tan vào cái cõi mơ màng trong Lương

Mờ xa cuối nẻo vô thường

3220 Hồn bà lướt giữa làn hương vĩnh hằng

Cửa tù lính ngục lăng xăng

Trình tâu bẩm báo dày trong chật ngoài

“Đầu bà máu ướt thấm vai

mắt bà giận dữ ánh dài giương to

môi bà cười mĩm như mơ

tay bà ve vẫy trước giờ ra đi!

Muôn tâu Thánh thượng! Chỉ vì .. .

Ngọc Hân- Bà ấy muốn ghi sử vàng!.. .”

Gia Long cúi mặt bàng hoàng

3230   Truyền đem mai táng sau vườn Ngự lâm

Rồi truyền tha bỗng Lê Lương

Cùng hai con được hồi hương quê nhà

Ba người lạy tạ bước ra

“Ôm theo ngào ngạt hương hoa một người

Mắt nhoà từng giọt nắng tươi

Phú Xuân ơi! Có nét cười cỏ cây

Giang sơn ơi! Có bóng ngày

Những con chim thả lắt lay cánh đào!

Mênh mông đất rộng trời cao

3240 Mang mang giấc mộng thủa nào khôn nguôi …!”

*0*

Trăm năm nhìn lại kiếp người

Ngây thơ mơ mộng cợt cười tính toan

Giựt giành che giấu bố ban

Sướng vui đau đớn bàng hoàng lệ rơi

Nhìn lên thầm trách ông trời

Nhìn vào thầm cám ơn đời ban ân

Gẫm câu thân nghiệp- thiệp ngân

Rằng tiền là thiệp tuỳ thân bên người

Mời anh- chào món hàng tươi

3250   Mời em- mua một nụ cười giai nhân

Mời nhau- lá thiệp phong trần

Mời đời- lắng khúc trong ngần trường thanh

Lời mơ từng giọt chong canh

Lung linh mảnh sáng vi thanh đoạn trường

Cho dù mai một khói sương

Xin cung kính gửi dòng hương tâm thành

Qui nhơn ngày 11-5-2009

VŨ ĐÌNH NINH

TÓM  LƯỢC

Chương 1: Từ câu 1 đến câu 138 – Lược  sử, giới thiệu công chúa Ngọc Hân và giấc mơ của nàng trên đường lễ chùa ở núi Vu sơn trong ngày Nguyên tiêu.

Chương 2: Từ câu 139 đến câu 426 – Triều Nguyễn , nạn Phúc Loan . Tây Sơn tụ nghĩa , mở đầu chiến thắng phủ Qui Nhơn.

Chương 3: Từ câu 427 đến câu 868 – Những chiến công lẫy lừng của quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ trực tiếp trận đánh và kế sách của Chúa Nhạc. Đám cưới công chúa Thọ Hương và Thế tử Dương. Chúa Trịnh chiếm kinh thành Phú Xuân và sắc phong cho Nhạc.

Chương 4: Từ câu 869 đến câu 1124 – Thế tử Dương vào ở chùa Thập Tháp . Chúa Nhạc lập mưu thả Thế tử Dương, tạo cơ hội để Lý Tài theo Dương chống Định Vương. Trận chinh Nam: kết thúc cuộc đời hai chúa và Lý Tài ở Gia định .

Chương 5: Từ câu 1125 đến câu 1376 – Nỗi lòng của Nguyễn Huệ về chiến công, về đất nước, về người tình . Giáo Hiến thất sủng, được chúa Nhạc cấp một khu nhà ở phía đông thành Qui nhơn. Hiến nhờ Chúa Nhạc tổ chức đám cưới cho Lê Lương và Hoài Sơn, con mình. Cuộc Bắc chinh của Nguyễn Huệ và việc cưới Ngọc Hân công chúa ở kinh thành Thăng Long.

Chương 6: Từ câu 1377 đến câu 1682 – Nguyễn Huệ lấy danh nghĩa phò Lê diệt Trịnh, lập vua Lê Chiêu Thống . Cảnh nhồi da xáo thịt Nhạc –Huệ. Phá âm mưu chuyên quyền của Nguyễn Hữu Chỉnh , Huệ giết sứ thần Trần Công Xán và Lê Duy Án . Cuộc phạt Bắc lần 2: giết Chỉnh. Thi hành quân pháp: chém Vũ Văn Nhậm ở Thăng long.

Chương 7: Từ câu 1683 đến câu 1958 – Nỗi lòng của Chánh cung Hoàng hậu và Đắc Tuyên. Nguyễn Huệ xưng đế, chiến thắng Đống Đa vĩ đại . Việc kinh bang và sự hồi tưởng của vua Quang Trung.

Chương 8: Từ câu 1959 đến câu 2354 – Sự lớn mạnh của Nguyễn Ánh ở phương Nam. Sự suy yếu của vua Thái Đức ở Qui nhơn. Các chương trình và sự cải cách của vua Quang Trung ở Phú Xuân. Cái chết đột ngột của ông và những biến động.

Chương 9: Từ câu 2355 đến câu 2502 – Nỗi lòng bà Hoài Sơn- người yêu Nguyễn Huệ khi biết hung tin. Cái chết của bà. Nỗi lòng của Lê Lương- chồng bà. Nỗi lòng của vua Nhạc sau giấc mơ và việc tổ chức tang lễ cho bà. Cái chết của vua Thái Đức và sự cầu nguyện của công chúa Thọ Hương.

Chương 10: Từ câu 2503 đến câu 2656 – Lê Lương đưa con đến Núi Bà lánh nạn. Lê Trung chết oan, Lê Chất theo hàng quân Nguyễn. Qui nhơn mất, thành Hoàng Đế đổi tên là thành Bình Định. Võ Tánh và Ngô Tùng Châu được phong quan Hiệp trấn.

Chương 11: Từ câu 2657 đến câu 3062 – Sự mục rữa của triều đình Phú Xuân. Vợ chồng Xuân –Diệu mật thư giết Sở và

Tuyên. Diệu và Dũng chiếm thành Bình Định. Võ Tánh và Ngô Tùng Châu tự vẫn.

Nguyễn Ánh dồn quân đánh chiếm Phú Xuân. Quân tướng Tây Sơn và sự tan rã. Nỗi lòng Nguyễn Ánh khi nhìn lại cung đình xưa và những khát vọng.

Chương 12: Từ câu 3063 đến câu 3256 – Nguyễn Ánh lên ngôi Hoàng đế, đổi quốc hiệu, chiếm lấy Bắc Hà và sự trả thù của ông đối với nhà Tây Sơn…

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Hoàng Lê nhất thống chí : Ngô gia văn phái . Bản dịch Ngô Tất Tố.

2- Đại Việt sử kí toàn thư. Ngô Sĩ Liên. Bản dịch của Cao Huy Giu . Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà nội 1973.

3- Lịch sử nội chiến ở Việt nam từ 1771-1802. Tạ Chí Đại Trường . Nhà xuất bản Văn học sử, Sài gòn 1973.

4- Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ. Nguyễn Lương Bích và Đặng Ngọc Phụng. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà nội 1971.

5- Việt nam văn học sử yếu . Dương Quảng Hàm. Bộ Giáo Dục Trung Tâm Học Liệu xuất bản 1968.

6- Thanh Thực Lục . Sử liệu chiến tranh  Thanh – Tây Sơn . Dịch giả Hồ Bạch Thảo.  Nhà xuất bản Hà Nội 2007.

7- Đại Nam Liệt Truyện toàn tập . Nhà xuất bản Thuận Hoá 1994.

8- Việt Nam Sử Lược toàn tập . Trần Trọng  Kim . Nhà xuất bản TP. Hồ Chí Minh năm 2000.

9- Sông Kôn Mùa Lũ. Nguyễn Mộng Giác. Nhà xuất bản Văn học 2003

10- Tây Sơn Bi Hùng Truyện .  Nhà xuất bản văn hoá thông tin văn hoá 2006

Advertisements

About hoingovanchuong

Nhà văn
Bài này đã được đăng trong 06.Thơ và được gắn thẻ , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

4 Responses to TÂY SƠN AI TƯ VÃN TRUYỆN

  1. Xin cám ơn nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo !
    Bạn Vũ Đình Ninh kính mến:
    Được bạn gửi tặng tập thơ Ai Tư Vãn. Tôi cảm kích vô cùng. Xin chân thành cảm ơn bạn.
    Ai Tư Vãn truyện, 3256 câu thơ lục bát, xuyên suốt từ đầu đến cuối, như dòng nước từ núi sâu cuồn cuộn xuôi hòa vào lòng biển cả.
    Viết trên một ngàn câu thơ lục bát mà đọc được, nói chung cả nước, nói riêng ở Bình Định, xưa nay không nhiều lắm. Đọc đi, đọc lại tôi chưa biết chỗ nào để chê mà cũng không dám ngợi khen. Tôi thầm phục tác giả và trân trọng tác phẩm vô cùng.
    Và, đôi dòng sau một đêm đọc truyện:
    Xa tạnh tiếng chuông chùa
    Đèn khêu sáng đủ vừa
    Đất già ngòi bút trẻ
    Nước mới chuyện ngày xưa
    Nghĩa khí trăng ngời bóng
    Phế hưng gió đổi mùa
    Đọc Ai Tư Vãn truyện
    Nghe mặn giọt sương khuya.
    Kính bút Y XUYÊN

  2. Pingback: CHUYỆN LY KỲ QUANH TÂY SƠN AI TƯ VÃN TRUYỆN « Thạc Đức gia

  3. Pingback: soma cubes

  4. Pingback: LỜI TỰA TÂY SƠN AI TƯ VÃN TRUYỆN « Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s